vietinfo di động
Thư mục
Khoa học công nghệ

Những khả năng dị thường của con người

Cập nhật lúc 13-05-2010 12:44:25 (GMT+1)

Những khả năng kì lạ không chỉ giúp người đó cảm nhận nhiều hơn về thế giới mà còn là món quà lớn tạo hóa đã ban cho nhân loại: những nhạc sĩ, họa sĩ thiên tài, nhà bác học hay người mang tế bào bất tử…

1. Người siêu vị giác (Supertaster)

Những ai có khả năng vị giác mãnh liệt được gọi là những người siêu vị giác. Họ có những gai lưỡi hình nấm gọi là fungiform trên bề mặt lưỡi được xem là nguyên nhân của khả năng này. Trong số 5 vị cơ bản là ngọt, mặn, đắng, chua và umami (vị ngọt thịt hay vị đậm đà có trong thức ăn nhiều đạm) thì người siêu vị giác cảm nhận vị đắng nhiều nhất.

Khoa học đầu tiên chú ý đến những khả năng vị giác khác nhau của con người khi nhà hóa học Arthur Fox yêu cầu mọi người nếm một thứ hợp chất gọi là Phenylthiocarbamide (PTC). Một vài người có thể nhận ra vị đắng của hợp chất nhưng một số thì không – điều này đặt ra câu hỏi liệu khả năng vị giác có lệ thuộc vào yếu tố di truyền hay không. Trong khi khoảng 70% người có thể nếm vị PTC, 2/3 trong số này được đánh giá có vị giác trung bình và chỉ 1/3 là những người siêu vị giác.

Người siêu vị giác thường không thích một số thực phẩm nhất định, đặc biệt loại có vị đắng như bắp cải, cà phê và nước nho ép. Phụ nữ, người châu Á và châu Phi tỉ lệ người siêu vị giác cao hơn.

2. Lỗ tai âm nhạc (Absolute pitch)

Những người có khả năng này có thể xác định và ghi lại chính xác một âm thanh. Đây không chỉ là khả năng nghe tốt hơn mà còn là khả năng đưa âm thanh vào sự ghi nhớ của não bộ. Những ví dụ về khả năng này bao gồm xác định độ cao thấp của những tiếng động hằng ngày (tiếng còi, tiếng động cơ), có thể phát âm chính xác nốt nhạc mà không cần nghe mẫu, gọi tên quãng trường của một hợp âm hay gọi tên bộ khóa của một bài hát.

Làm được những điều này là một hoạt động dựa trên kinh nghiệm – nó đòi hỏi một người phải nhớ tần số của mỗi quãng trường, có khả năng đánh dấu nó (như quãng La trưởng “A”, Đô thăng “C#” hay Pha trưởng “F”) và trình bày dãy âm thanh trong mỗi quãng trường. Vì vậy, đã có câu hỏi rằng yếu tố di truyền hay quá trình học hỏi ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng âm nhạc?

Tỉ lệ dân số có khả năng này trong khoảng là từ 3% đối với dân số chung của châu Mĩ và châu Âu lên đến 8% trong số nhạc sĩ chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp. Tuy nhiên, trong các nhạc viện ở Nhật, khoảng 70% nhạc sĩ có lỗ tai âm nhạc. Một phần nguyên nhân của tỉ lệ cao này có lẽ vì khả năng này phổ biến ở những người trưởng thành trong môi trường nhiều giọng (tiếng Quan thoại, Quảng Đông, Việt Nam) hay môi trường ngôn ngữ trọng âm (tiếng Nhật). Lỗ tai âm nhạc còn phổ biến ở những ai bị mù bẩm sinh.

3. Khả năng nhìn 4 nguồn sáng (Tetrechromacy)

Mô tả ảnh.

Tetrechromacy là khả năng nhìn được ánh sáng từ 4 nguồn khác nhau. Người bình thường chúng ta nhận biết màu sắc từ 3 nguồn cơ bản là đỏ, lục, lam; còn ở những người có “dị năng” này thì họ còn nhìn được dải màu khác trên quang phổ. Khả năng này ở người rất hiếm và theo Wikipedia, hiện có hai trường hợp được xác định.

Trong thế giới động vật, cá zebrafish là một ví dụ về khả năng nhìn 4 nguồn sáng: đỏ, lục, lam, cực tím.
Trong thế giới động vật, cá zebrafish là một ví dụ về khả năng nhìn 4 nguồn sáng: đỏ, lục, lam, cực tím.

Sự nhận biết ánh sáng bình thường gọi là Trichoromacy, đó là nhờ ba loại tế bào hình nón nhận ánh sáng đỏ, lục, lam trong quang phổ. Mỗi loại tế bào nón có thể nhận khoảng 100 độ màu và nhờ não bộ liên kết các màu sắc với nhau mà chúng ta nhận biết được đến khoảng 1 triệu màu sắc khác biệt.

Người có khả năng nhìn 4 nguồn sáng có thêm một loại tế bào nón nhận biết quang phổ phạm vi giữa đỏ và xanh nên trên lí thuyết, họ có thể quan sát đến 100 triệu màu.

Khả năng này dễ xảy ra ở phụ nữ hơn là nam giới, thú vị là những người bị mù màu (thường xảy ra ở nam nhiều hơn) lại có thể do di truyền từ phụ nữ có khả năng nhận biết 4 nguồn sáng.

4. Khả năng định vị bằng âm thanh (Echolocation)

Như một con dơi bay trong rừng tối, chúng phát ra âm thanh và chờ tiếng vang dội lại để xác định vật thể ở đâu và cách bao xa; con người cũng có khả năng định vị bằng âm thanh nhưng khả năng này thường chỉ xảy ra ở những người mù. Họ trải qua một thời gian dài để tăng cường độ nhạy của việc nhận biết âm thanh phản hồi và hoàn thiện khả năng này.

Daniel Kish là một trong những người có khả năng định vị bằng âm thanh nổi tiếng nhất thế giới.
Daniel Kish là một trong những người có khả năng định vị bằng âm thanh nổi tiếng nhất thế giới.

Để dò đường đi bằng âm thanh phản hồi, người mù cần chủ động tạo ra âm thanh bằng cách khua gậy hoặc tắc lưỡi. Những người thuần thục khả năng này dù không nhìn thấy vẫn có thể nói cho ta biết vật đó ở đâu, kích thước và cả độ dày bao nhiêu. Bởi vì con người không thể tạo ra và nghe được những âm thanh tần số cao như dơi và cá heo nên chỉ có thể hình dung những vật tương đối lớn.

5. Người có ADN từ nhiều nguồn khác nhau (Genetic Chimerism)

Sử thi Iliad có mô tả quái vật Chimera với đuôi rắn, mình dê, đầu sư tử; Chimera cũng trở thành tên gọi cho một hiện tượng di truyền học là genetic chimerism hay tetragametism. Hiện tượng này xảy ra ở người hay động vật khi hai trứng được thụ thai hoặc phôi thai kết hợp cùng nhau trong thời kì đầu của thai kì. Mỗi hợp tử mang một bản sao ADN của bố mẹ, vì vậy hợp tử mới có một bộ gen khác biệt. Về cơ bản, đứa trẻ sinh ra là song sinh của chính nó.

Quái vật Chimera trong thần thoại Hi Lạp.
Quái vật Chimera trong thần thoại Hi Lạp.

Chimerism ở người rất hiếm. Trong các thử nghiệm ADN nhằm xác định con ruột của bố mẹ đã phát hiện trường hợp Chimerism khi đứa trẻ không có liên hệ sinh học với người mẹ - nó mang một ADN khác. Lydia Fairchild là một trường hợp điển hình đã sinh ra một chimera. Người mẹ trẻ ở bang Washington đã phải đấu tranh với tòa án để giữ đứa bé mà cô mang nặng đẻ đau vì theo xét nghiệm nó không phải là con ruột cô.

6. Chứng loạn cảm giác (Synesthesia)

Mô tả ảnh.

Hình dung không ngừng về sự liên kết giữa những con số và chữ cái với màu sắc nhất định hoặc nghe một từ nào đây lại gây ra vị giác ở lưỡi. Đây là 2 dạng của một bệnh thần kinh gọi là loạn cảm giác. Loạn cảm giác là khi kích thích lên một giác quan lại dẫn đến phản ứng vô thức của một giác quan khác.

Chứng bệnh này chủ yếu do di truyền và dạng loạn các kí tự với màu sắc là phổ biển nhất. Các trường hợp loạn cảm giác khác có thể gây ra những sự phối hợp đặc biệt như ngày tháng có một vị trí chính xác về không gian, những con số có tính cách, âm thanh được nhận thức cùng với màu sắc…

Mô tả ảnh.
Người loạn cảm giác thấy những con số cũng có tính cách.

Mặc dù loạn cảm giác là một chứng bệnh thần kinh nhưng đáng lý không nên xem như rối loạn vì nhìn chung nó không ảnh hưởng đến khả năng của con người. Phần lớn những người loạn cảm giác thậm chí không nhận ra rằng những gì họ cảm nhận về cuộc sống phong phú hơn những người bình thường. Hiếm có ai xem loạn cảm giác có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của họ.

Ước đoán về tỉ lệ người bị loạn cảm giác rất khác nhau, từ 1 trong 20 người đến 1 trong 20.000 người. Những nghiên cứu từ năm 2005 – 2006 với mẫu ngẫu nhiên cho thấy cứ 23 người thì có một người bị loạn cảm giác. Những ví dụ về người loạn cảm giác có tác giả Vladimir Nabokov, nhà soạn nhạc Olivier Messiaen và nhà khoa học Richard Feynman. Daniel Tammet (được đề cập trong phần tiếp theo) cũng là một người loạn cảm giác, ông thấy những con số với hình dạng và kết cấu.

7. Bộ óc máy tính (Mental conculators)

Daniel Tammet là tác giả cuốn sách Born on the blue day bán chạy nhất năm 2006, anh là một thiên tài với hai chứng rối loạn: loạn cảm giác và tự kỉ.
Daniel Tammet là tác giả cuốn sách Born on the blue day bán chạy nhất năm 2006, anh là một thiên tài với hai chứng rối loạn: loạn cảm giác và tự kỉ.

Nhóm người kì lạ nhất thông thạo những tính toán phức tạp trong đầu là những nhà bác học mắc chứng tự kỉ.

Có nhiều người được rèn luyện có thể thực hiện những tính toán phức tạp cực nhanh trong đầu họ như các nhà toán học, nhà văn, họa sĩ… nhưng khả năng bẩm sinh của những bác học tự kỉ là đáng quan tâm nhất. Phần lớn họ sinh ra mắc chứng tự kỉ, chậm hiểu, chậm phát triển, thường do chấn thương đầu.

Nghiên cứu gần đây cho thấy ở những người có khả năng tính toán siêu phàm thì lượng máu chảy lên phần não về tính toán nhiều gấp 6 – 7 lần so với người bình thường. Ví dụ về những người có khả năng này là Daniel McCartney, Solo Finkelstein, Alexander Aitken và Daniel Tammet.

8. Nhớ chính xác những hình ảnh thị giác (Eidetic memory)

Mô tả ảnh.

Khi một người có vùng lưu giữ hình ảnh hay nhớ từng chi tiết chính xác, họ có khả năng nhớ chính xác các hình ảnh thị giác. Những ví dụ về khả năng này là Akira Haraguchi, người đã kể lại từ trí nhớ mình 100.000 chữ số thập phân của số pi hay Stephen Wiltshire, người đã vẽ lại toàn bộ thành Rome sau một chuyến bay quan sát. Kim Peek cũng trở thành hình mẫu cho nhân vật Raymon Babbit trong phim Rainman khi có khả năng nhớ 12.000 cuốn sách.

Mô tả ảnh.
Stephen Wiltshire đang vẽ toàn cảnh New York từ trí nhớ của mình.

9. Tế bào bất tử (Immortal cells)

Mô tả ảnh.
Dòng tế bào bất tử HeLa.

Tế bào bất tử nghĩa là những tế bào có thể phân chia độc lập bên ngoài cơ thể người; chỉ có duy nhất trường hợp người có tế bào bất tử được biết đến , đó là một phụ nữ tên Henrietta Lacks. Năm 1951, lúc đó Henrietta Lacks 31 tuổi, bà bị ung thư cổ và sẽ chết trong vài năm. Không được sự cho phép của bà và gia đình nhưng một bác sĩ phẫu thuật đã lấy mẫu mô từ khối u và chuyển qua cho TS George Gey. Nhà khoa học từ phòng thí nghiệm cấy mô của ĐH John Hopkins đã nhân bản mẫu mô của Lack thành dòng tế bào bất tử gọi là dòng tế bào HeLa.

Những tế bào từ khối u của Lack có một kiểu enzyme telomerase tích cực. Đây là enzyme có cơ chế làm cho tế bào già đi. Những tế bào này nảy nở nhanh bất thường. Ngày Henriette Lack qua đời cũng là ngày mà TS Gey tuyên bố với thế giới rằng một kỷ nguyên mới của y học đã bắt đầu – về một thứ có thể điều trị ung thư.

Mô tả ảnh.
Henrietta Lacks – người duy nhất có tế bào bất tử.

Tế bào HeLa được Jonas Salk sử dụng vào năm 1954 để phát triển phương pháp điều trị bệnh bại liệt ở trẻ em. Từ sau đó, tế bào HeLa được dùng trong nghiên cứu ung thư, AIDS, ảnh hưởng của phóng xạ và chất độc, bản đồ gen…

Ngày nay, tế bào HeLa quá phổ biến trong phòng thí nghiệm đến mức chúng nhiễm sáng các mẻ cấy tế bào khác và khiến một số nghiên cứu sinh học bị vô hiệu vì hiện diện của tế bào này. Ngày nay tế bào HeLa sống còn nhiều hơn cả thời Henrietta Lacks còn sống – tổng khối lượng của chúng lớn hơn nhiều lần so với trọng lượng cơ thể Henrietta Lacks. Đáng tiếc, phải rất nhiều năm sau khi Lacks qua đời, sự đóng góp lớn lao của bà cho khoa học mới được công nhận chính thức.  

Chi Giao

Theo Listverse-VNN

Tin liên quan
Lựa chọn vietinfo di động

VietInfo Group

Liên hệ gửi bài: BBT@vietinfo.eu
Liên hệ quảng cáo: quangcao@vietinfo.eu ,
Tel.:+420 777 007 989 (chỉ liên hệ quảng cáo)

Vietinfo.eu được phát hành theo giấy phép và luật thông tin của EU.

Copyright © 2008 - 2021 VietInfo Group

Chọn hiển thị:

Chọn khổ chữ: