vietinfo di động
Thư mục
Góc Bạn Đọc

Nguyễn Kim Phụng - Những mảnh của cuộc đời (9)

Cập nhật lúc 21-06-2015 20:19:11 (GMT+1)
Lớp TK1 của thầy Pham Hung năm 1978-1979 . Ảnh do tác giả cung cấp.

Cuốn tự truyện này tôi đã có ý định viết từ lâu xong cứ như mọi sự đều có duyên. Sau khi viết và được trang mạng vietinfo.eu đăng tải bài báo với tiêu đề  „30-4, Việt Nam sau 40 năm sau ngày thống nhất“, một bài báo có nhiều phản hồi, khen cũng nhiều mà chê trách, dọa nạt cũng có, tôi quyết định bắt đầu viết tự truyện này. Tôi hy vọng nó sẽ ít nhiều bổ ích cho nhân sinh quan – thế giới quan của bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc.

>Nguyễn Kim Phụng - Những mảnh của cuộc đời (80)

Thanh Xuân – Đầu cầu dẫn tới Thiên đường!

  Nếu ai cho rằng Trường đại học là nơi con người được trang bị đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm để có thể đối chọi với cuộc đời sau khi tốt nghiệp thì quả là một sai lầm lớn. Về thực chất, tại các trường đại học, sinh viên được trang bị một số kiến thức cơ bản để có thể tiếp tục nghiên cứu hay làm việc sau này. Điều quan trọng nhất ở đây là sinh viên được „dạy“ cách tìm kiếm thông tin, gạn lọc và tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin và cuối cùng để rút ra kết quả đem áp dụng vào công việc, vào đời sống. Nếu sinh viên nào không hiểu được điều này thì sẽ chẳng khác gì những con vẹt, được dạy „học thuộc lòng“ các kiến thức đã có trong sách vở và dù có „bước ra“ được khỏi trường đại học thì họ cũng sẽ „chẳng làm nên trò trống gì“.

   Tháng 9 năm 1978 chúng tôi vào trường đại học ngoại ngữ Thanh Xuân học tiếng để chuẩn bị cho công cuộc „du học nước ngoài“. Nếu không lầm thì vào năm 78 này, cả nước có hơn 700 học sinh „xuất sắc nhất“ được chọn, sau kỳ thi tuyển sinh vào đại học, để cho đi nước ngoài học đại học. Tất nhiên cũng không nên bỏ quên nhiều bạn cùng tuổi, tuy học rất giỏi và kết quả thi cao nhưng do „lý lịch không đạt“ nên không được chọn, thậm chí còn không được đi học đại học nữa kia. Cái chính sách tuyển chọn sinh viên hay cán bộ nhà nước „theo lý lịch“ này đã khiến Việt nam mất nhiều người tài và dẫn đến tình trạng „người ngu chỉ huy kẻ khôn, thằng dốt lãnh đạo người giỏi“, cái đã được một nhà thơ „bồi bút“ viết từ những năm 50-60:

...Giặc nước đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát
Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân
Những kẻ quê mùa đã thành trí thức
Tăm tối cần lao nay hoá những anh hùng. (CLV)

Trường Đại học Ngoại ngữ (Hanoi University of Foreign Studies - HUFS). Từ ngày 15 tháng 9 năm 2006 mang tên mới là Trường Đại học Hà Nội (Hanoi University - HANU).

Trong lý lịch xét tuyển học sinh đại học, những ai trong mục „Thành phần gia đình“ ghi là con cái nhà địa chủ/tư sản hay con cái viên chức (lính, sĩ quan, công chức chính quyền Việt Nam cộng hòa) đành phải chấp nhận tuổi buồn! Thay vì được vào đại học thì họ phải đi bộ đội hay đơn giản là „ở nhà cho khỏe“.

   Trường đại học ngoại ngữ Thanh Xuân nằm trên đường tự trung tâm Hà Nội ra thị xã Hà Đông, vốn là thủ phủ của tỉnh Hà Tây quê lụa cũ, nay đã bị sáp nhập vào Hà Nội để thủ đô nước CHXHCNVN ngày càng to hơn và để những người làm „dự án“ xây dựng sẵn đất „làm tiền“ hơn. Từ Bờ Hồ ra tới đây,đi theo đường Nguyễn Trãi, khỏang 10 km, từ trường vào Hà đông độ 2 km nữa. Khi qua ngã tư Sở rồi trước tiên phải qua ngang mặt trường Đại học tổng hợp Hà Nội, rồi tiếp tới trường ĐHNN, cùng nằm bên tay phải, nếu đi tiếp về hướng Hà Đông sẽ tới trường C500 (đại học cảnh sát) ở bên đối diện, tiếp nữa lại đến Đại học bưu điện (những năm 78 – 82 vẫn đặt ở đây). Học sinh của trường đại học ngoại ngữ (cả hệ đào tạo trong nước lẫn Lưu học sinh) hay đá bóng giao lưu với học sinh của hai trường đó và trong những trận đáu này hay xả ra cãy cọ, thậm chí đánh đấm lẫn nhau.

   Khóa 1978- 1979 này có khỏang 100 sinh viên được „phân“ đi Tiệp Khắc (Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc) và chia làm 4 lớp, từ TK1 tới TK4, tôi được phân về lớp TK1, lớp TK3 là các bạn đi học đại học quân sự (Brno) còn TK4 học tiếng Sloven để đi học ở Slovakia. Lớp TK1 chúng tôi có 23 sinh viên, có đủ thành phần khắp ba miền Bắc – Trung – Nam. Có anh lớp trưởng (Bình) là người Nghệ Tĩnh, là đảng viên và đã đi bộ đội về, có bạn thì học chuyên tóan Thanh Hóa (Công nặc!), và có hai bạn nữ, chúng tôi quen gọi là „mì chính cánh“ - Chi người Đà Nẵng, và Vân Anh người Hà Nội, có hai bạn người Sài gòn (Thảo và Phong), có mấy bạn từ Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương tôi thì Bắc Ninh, số còn lại là người Hà Nội, đặc biệt riêng trường cấp 3 Lý Thường Kiệt Hà Nội đã „cử“ tới 3 người vào lớp này (Phụng Loe và Tú G cùng lớp và Long H nữa!) Mỗi lớp được „cấp“ 1 phòng để ở. Như vậy lớp tôi với 23 sinh viên ở trong 1 phòng rộng khỏang 30 hay 40 m2, tất nhiên là phải ngủ giường tầng và chế độ sinh họat, học hành của chúng tôi cũng khá giống „bộ đội“. Sáng, lớp trưởng thúc dậy tập thể dục rồi sau đó rửa mặt đánh răng và lên lớp học.

Nhà ăn sinh viên đã được sửa nhưng vẫn mang bóng dáng ngày trước.

   Chế độ ăn uống với Lưu học sinh tại ĐHNN Thanh Xuân này có khá hơn so với chế độ của sinh viên trong nước. Ngày ăn hai bữa trưa và tối + 1 bánh mì để ăn sáng. Bữa ăn thì cơm cũng tạm đủ no, chỉ tới giai đoạn sau tháng 2.1979 có kém đi và lác đác có bữa phải ăn bo bo độn. Bữa ăn chính có cơm + canh tòan quốc, vẫn có „váng mỡ“ trên mặt chậu canh, rau xào hay luộc, chủ yếu là rau muống và cũng có thịt hay cá kèm theo, tất nhiên chỉ gọi là có.

Tôi gọi là chậu canh vì chúng tôi được chia cơm theo mâm 5 người 1 bàn và canh được „múc cho vào chậu“, chậu nhôm hay nhựa gì đó, tôi không nhớ rõ, còn bát đũa ăn thì mỗi sinh viên tự mang theo. Ăn xong thì tự rửa và mang về phòng mình. Với sinh viên, đang tuổi ăn tuổi lớn, hầu như sau khi ăn độ 3 giờ là thấy đói (vì thiếu chất là chính!) chính vì thế, mặc dù chúng tôi được phát 1 cái bánh mì vào bữa ăn tối, để cho bữa sáng hôm sau, đã số đã chén hết luôn vào buổi tối cùng ngày.

Chẳng biết vì số hên hay không mà tôi lại hay ngồi cùng mâm với hai „mì chính cánh“ nên nhưng miếng thị mỡ thường được „nhường lại“ Sau bữa ăn trưa là tự học ở phòng hay chơi thì tùy. Sau bữa tối lại về phòng học và đến giờ thì bị „nhắc tắt đèn“ để đi ngủ – không gây ảnh hưởng chung. Mấy bạn người Hà Nội mới có điều kiện „trốn về nhà“ ngủ hoặc ăn, nhưng buổi sáng lại phải vào sớm nếu không có thể bị kỷ luật ngay.

Bản thân chúng tôi cũng rất sợ bị kỷ luật vì có thể sẽ làm „giấc mơ đi Tây“  tan theo mây khói. Chúng tôi học từ thứ hai tới hết trưa ngày thứ bảy, đến chiều hay tối thứ bảy, sau giờ học và ăn trưa, nhiều bạn mới „về thăm nhà“, có thể bỏ luôn cả bữa tối tại nhà ăn SV. Thường các SV ở tỉnh xa chỉ về nhà tháng độ 1 lần, những người ở  Đà Nẵng có khi cả học kỳ mới về 1 lần, chưa nói đến dân Sài Gòn.

 Cứ tối chủ nhật, ở bến xe Bus Bờ Hồ đi Hà Đông, sinh viên đông như kiến cỏ vì trên tuyến này có sinh viên của tới 5-6 trường đại học đi. Nhiều bạn đành đi tàu điện. Hồi đó vẫn còn tuyến tàu điện Bờ Hồ – Hà Đông và chạy ngang qua các trường đại học nói trên. Thôi thì cảnh chen chúc nhau lên xe thật là khủng khiếp.

Thời đó Việt Nam cũng được Tiệp Khắc viện trợ cho xe bus Karosa, tương đối to, chứ xe Hải Âu (của Nga thì quá bé) và tuyến đường này dùng xe của Tiệp. Mỗi xe có lẽ nhồi nhét tới trên trăm người, đứng chen chúc đến mức gần ngạt thở, nhiều người bán cả trên thành xe, trên các cửa xe. Các bạn trẻ ngày nay không thể hình dung ra được cái cảnh chen chúc lên xe bus nó khổ thế nào.

Tại bến gốc, lúc này đặt ở phố Phan Chu Trinh, (bến đầu mối) hàng ngàn sinh viên đứng chờ xe tràn cả ra mặt đường. Chiếc xe đến lượt chạy còn không dám dừng hẳn lại cho người lên mà cứ „từ từ chạy“, ai lên được xe thì lên! Thôi thì la hét ầm ầm, dẫm đạp lên nhau kêu chí chóe. Đấy, thế hệ „chủ nhân tương lai của đất nước“ đã sống như vậy đó.

Trong lớp, tôi thân với Tuấn, người Hải Dương, vốn học chuyên tóan sư phạm I Hà Nội. 3 năm sống tập thể đã cho Tuấn nhiều kinh nghiệm. Chẳng hạn bạn có cả xoong nồi để nấu ăn tại phòng ở, có thể „chế tạo tàu ngầm“ đun nước sôi (chẻ 3 chiếc đũa rồi kẹp lưỡi Panh – sơ -lam (dao cạo râu) tạo nên hai cực, rồi nối dây điện – thiết bị điện để đun nước đơn giản, công suất cao (chắc cũng phải vài trăm óat!), đầu kia thì hai sợi lòng thòng chõe ra, cạo vỏ nhựa đi rồi „cắm direct“ vào ổ điện.

Tất nhiên vào buổi tối thì nó gây chập điện và làm mất điện một dãy nhà hay cả trường luôn. Vì thế Trường đã ra lệnh „cấm sinh viên dùng tàu ngầm đun nước. Thế nhưng cấm cũng chẳng ăn thua, sinh viên vẫn cứ làm, cứ dùng. Khi Tuấn hay tôi về „thăm nhà“ và quay lại trường thì lại nhận được „viện trợ của gia đình“, thường là gạo và ít tiền tiêu.

Sân đá bóng vẫn trơ không cỏ như ngày nào.

Gạo để nấu cơm vào những ngày chủ nhật chúng tôi ở lại trường không về nhà, tiền thì để ăn sáng hay mua thức ăn vào những ngày ở lại đó. Tôi với Tuấn lại chung 1 chiếc giường tầng. Lúc bí, không có củi nấu cơm, chúng tôi quyết định „hy sinh“ một tấm giạt giường – tầng trên, để làm củi đun nấu. Sau lần đó, hai đứa đành phải „ôm nhau ngủ“ trên ngăn giường ở tầng 1, có lẽ cũng ngủ chung với nhau tới 3-4 tháng, may mà chẳng có đứa nào „có bầu!“ Tuấn, khi sang Séc, được phân học hóa tại trường Hóa – Pardubice.

Tốt nghiệp bằng đỏ. Về nước cũng đi làm ở cơ quan nào đó mấy năm và được Mỹ mời đích danh đi làm tiến sĩ tóan. Hiện nay không hiểu bạn mình đang làm việc cho ai và ở đâu, lần cuối gặp là năm 2008 thì phải. Tuấn ít sinh họat với CLB Praha tại Hà Nội nên việc liên lạc với bạn có vẻ khó khăn hơn.

Từ cổng trường ĐH Thanh Xuân ra đến đường Nguyễn Trãi khỏang 1-2 trăm mét. Sát đường nhựa có mấy cái quán bán phỏ, bán nước và bán cái gì nữa tôi không còn nhớ. Các quán này nằm sát ngay đường tàu điện tuyến Bờ Hồ – Hà Đông và đường nhựa (đường Nguyễn Trãi). Dù sao tôi cũng thuộc thành phần „gia đình có điều kiện“ nên mỗi tuần về nhà, bố mẹ lại dúi cho ít tiền nên mỗi tuần cũng đủ ăn phỏ 2-3 lần, mỗi bát phở thường năm 78 – 79 có giá 2 hay 3 đồng, phở đặc biệt thì giá 4-5 đồng. Chén nước chè khi đó 1 hào và thanh kẹo lạc 2 hào thì phải. 

Kỹ sư Nguyễn Kim Phụng - gửi đăng
© Vietinfo.eu

>> Bình Luận tại bài 1: Những mảnh của cuộc đời (1)