vietinfo di động
Thư mục
Góc Bạn Đọc

Nguyễn Kim Phụng - Những mảnh của cuộc đời (7)

Cập nhật lúc 08-06-2015 17:11:41 (GMT+1)
Ảnh minh họa. (Nguồn: internet)

„ Cái quý nhất của con người ta là sự sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người...- Pavel Cosagin“ (Thép đã tôi thế đấy!, tiếng Nga: Как закалялась сталь !, là một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Nikolai A.Ostrovsky)

>Nguyễn Kim Phụng - Những mảnh của cuộc đời (6)

Thế hệ chúng tôi, sinh ra ở miền Bắc, được học hành dưới mái trường „xã hội chủ nghĩa“ và luôn bị „bồi đắp“ về lý tưởng cộng sản, về những cống hiến quên mình, về cách sống „Mình vì mọi người và Mọi người vì mình!“ Vào những năm 60, 70 thậm chí đến giữa những năm 80, trong tủ sách của nhiều nhà đều có cuốn truyện Thép đã tôi thế đấy! của nhà văn Nga, Nikolai A.Ostrovsky. Hầu như lũ học sinh choai choai chúng tôi đều cố gắng phấn đấu để được „vào đoàn“ - trở thành đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Bản thân việc „vào đoànn“ này cũng đem theo những lợi ích thiết thân, chẳng hạn nếu không phải là đòan viên thì „không thể vào học tại các trường của cảnh sát hay quân đội và nói chung cũng khó mà được nhận vào học đại học, dù bạn có học giỏi đến ấy đi chăng nữa. Những người „chăm lo về đội ngũ kế cận của Đảng“ luôn nghĩ tới điều này và họ làm đủ mọi cách để „lớp đàn em“ phải tuyệt đối trung thành, phải tuyệt đối ngoan ngoãn vâng lời“. Tóm lại phải thực sự là „nnhững con cừu đã được tẩy não sạch trơn!“

Khi chuyển xuống trường cấp 3 Quế Võ học, tôi đã „được“ kết nạp đoàn vào giữa học kỳ 1 vì thành tích học tập cũng như vì đạo đức tốt. Năm lớp 8 Phượng làm lớp trưởng vì Phượng vốn là lớp trưởng của đa số thành viên trong lớp từ những năm học ở trướng cấp 2 Phượng Mao, còn tôi lại mới chuyển từ thị xã Bắc Ninh xuống đây học nên tôi được bầu làm lớp phó phụ trách học tập. Từ lớp 9 tới hết lớp 10, tôi đã được „tín nhiệm“ bầu làm lớp trưởng kiêm luôn bí thư chi đoàn lớp. Vào đầu năm học có chút trục trặc vì trường thiếu giáo viên dạy ngoại ngữ. Tháng 9 lớp tôi được dạy tiếng Nga, sang tháng 10 thì lại học tiếng Pháp và tới tháng 11 thì lại chuyển sang học tiếng Anh. Lúc này trường đã được bổ sung một „lứa“ giáo viên mới về, trong đó có những thày cô dạy ngoại ngữ (tiếng Anh) và cả dạy văn, tóan. Cuối cùng lớp chúng tôi đã học tiếng Anh cả 3 năm cấp 3. Các thầy cô giáo Việt Nam dạy cấp 3 thời trước chủ yếu là học hết 10+3 (thực chất là tương đương cử nhân) chứ ít người có học vị kỹ sư hay master (thạc sĩ) như bây giờ. Chỉ có các giáo viên dạy ngôn ngữ thì hoặc là học Đại học sư phạm ngoại ngữ (trường nằm ở mạn Cầu giấy đi xuống), hoặc là Đại học ngoại ngữ (gọi là trường Ngoại ngữ Thanh Xuân), và đều học hệ 4 năm thì phải. Lớp tôi do thầy Thành dạy toán, đôi lúc ông thầy này nghỉ (ốm hoặc có việc) thì có một thày khác  - Thầy Khoái dạy thay. Chính ông thầy Khoái này đã khiến tôi „mở mắt“ về cái gọi là „đạo đức cộng sản“. Hồi còn chưa lấy vợ, ông thầy tán tỉnh hết cô giáo này tới cô giáo khác và đôi lúc còn chơi trò „bắt cá nhiều tay“. Trong số giáo viên mới bổ sung về trường có cô Hương dạy văn, người Hà Nội, vừa xinh như tây lại vừa dịu dàng, ông thầy Khoái luôn đeo bám theo nhưng có vẻ bị cự tuyệt. Tôi nghĩ, một là cô Hương quá „chán“ với các trò mèo của anh bạn đồng nghiệp kia, hai là không ưa gì cái vẻ „vừa nhà quê, vừa gian giảo“ của ông Khoái. Do bị cự tuyệt nên ông Khoái này đã tìm mọi cách để làm hại, đã có lần ông ta còn dựng chuyện lên để „vu oan“ cho cô giáo Hương này khiến cô tí nữa thì bị kỷ luật. Sau cùng thì do quan hệ „thiếu kỹ thuật“, ông Khoái đã làm cho một cô giáo khác, cũng cùng nhóm giáo viên mới về trường, „ễnh bụng ra“ và để khỏi bị kỷ luật, ông thầy đành phải cưới cô ấy làm vợ. Chuyện quan hệ, tìm hiểu nhiều người một lúc thì chẳng có gì phải đáng lên án, thế nhưng cái không hay là ở chỗ ông Khoái này lại làm bí thư đòan trường và còn làm „phó bí thư chi bộ“ của trường cấp 3 Quế võ này, mồm miệng ông ta lúc nào cũng „ra rả“ những điều răn dạy về đạo đức trong khi bản thân thì luôn chơi những trò bẩn. Khi tôi học lớp 9 và đã làm lớp trưởng kiêm bí thư chi đòan đòan của lớp, tôi đã có vài ba lần va chạm với thầy Khoái. Tôi nhớ nhất là có một lần ông thầy này đến lớp tôi để dạy thay cho thầy Thành hai tiết toán. Ông ta giảng cho học sinh về một bài toán và cách giải, sau khi hỏi học sinh có hiểu không, tôi đứng lên nói, rằng thầy làm thế cũng được nhưng hơi dài dòng, em có cách giải ngắn hơn và dễ hiểu hơn rồi lên bảng làm luôn. Tôi cảm tưởng như sau đó mặt ông ta có „xám“ lại và cũng từ đó tôi luôn bị ông ta trù úm. Chẳng hạn, điểm tống kết tất cả các môn học của tôi vào năm lớp 9 đều trên 8, thấp nhất là môn thể dục được 8,5 và văn được 8,8, còn các môn khác đều từ 9,5 đến 10 tròn, vậy mà tôi vẫn không được Sở giáo dục tỉnh Hà Bắc tặng bằng khen Học sinh giỏi toàn diện của tỉnh này chỉ vì ông Khoái đã có những „ý kiến không hay về tôi“, chẳng hạn nào là tôi tuy học giỏi nhưng kiêu căng, nào là tuy hiểu nhiều nhưng lại không lễ phép...

Tư tưởng của người Việt nam bị ảnh hưởng nặng của Nho giáo, Khổng giáo với những điều giáo huấn rất „hủ lậu“ và nó cản trở, nó kìm hãm sự phát triển tự do trí tuệ con người. Mấy chữ „đạo đức“ đã được những kẻ dốt nát nhưng bè phái cơ hội triệt để sử dụng trong việc đối phó và triệt hại những người có tài, có khả năng nhưng lại „ruột để ngoài da“, cứ nói toang ra các sự thật một cách không bao che dấu diếm. Nhiều người Việt Nam rất tâm đắc với câu:

„Lời nói không mất tiền mua,
lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau“

Thế nhưng tôi cho rằng chính câu này cực kỳ có hại. Nó khiến cho con người ta trở thành giả dối, lươn lẹo và nó khiến cho xã hội bị bao trùm bởi sự giả tạo. Các cá nhân, nếu lấy câu đó làm phương cách đối nhân xử thế, sẽ luôn phải sống „hai mặt“ cùng một lúc – một mặt là với cái TÔI – đúng với bản chất, đúng với ý nghĩ và mong muốn thật của bản thân và hai là với cái VỎ ngoài – để đối chọi, để trưng ra, khoe ra với thế giới bên ngoài. Có khi trong lòng bạn rất gét ai đó hoặc không vừa lòng với điều gì đó nhưng ngoài mặt bạn vẫn cười tươi, vẫn „khen“, vẫn vỗ tay phụ họa. Sự giả dối này kéo theo sự dối trá khác và cuối cùng dẫn tới cả một xã hội giả dối, cả một đất nước giả dối, ở nơi đó, những con người ngay thẳng dễ bị cô lập và sẽ không còn chỗ đứng nữa! Xã hội Việt Nam hôm nay đúng là như vậy đó – Trừ trong một số ít gia đình và bạn bè thân thiết ra còn lại chỉ là sự giả tạo bao trùm tất cả, Quan hệ người với người trở thành quan hệ giữa thú dữ đi săn với con mồi bị săn mà thôi!

Trường cấp III Quế Võ được xây dựng trên khu đất ruộng, nằm cách trung tâm Phố Mới độ một cây số. Trong nhưng năm 70 của thế kỷ trước, cả huyện Quế Võ chỉ có đúng một trường cấp 3 này mà thôi và mỗi hệ (lớp 8,lớp 9 lớp 10) đều có 5 -7 lớp Nếu không lầm thì khối lớp 8 hồi đó có 7 lớp,từ A tới H, tôi học lớp 8D (sau đó là 9D, 10D). Lúc đó, trường chỉ có hai dãy nhà một tầng, được xây gạch và lợp ngói đàng hoàng, cũng được lắp cửa sổ gỗ hẳn hoi, còn hai dãy nữa thì đúng là „nhà tranh, vách đất“, các lớp 8 được bố trí học tại 2 dãy này, còn khối 9 và 10 ở hai dãy nhà xây. Có những hôm đang học, trời mưa bão, nước mưa hắt cả vào trong lớp và đôi lúc còn bị tốc mái nhà khiến học sinh phải bỏ dở buổi học. Chỉ có trục đường chính trong trường được rải cấp phối (tức là lấy đất đồi rải lên mặt đường rồi đầm chặt, còn những đoạn đường khác dẫn tới các lớp học vẫn là đường đất, trông chẳng khác gì bờ ruộng lúa cả. Sân chính của trường, nơi sáng thứ hai hàng tuần tập trung chào cờ, có nhiều lần bị ngập nước. Trường lại nằm cạnh làng Hà, nơi có đặt một số ụ pháo cao xạ và có thời gian còn có chỗ để đặt cả tên lửa phòng không. Tôi vẫn nhớ có lần đã chạy ra xem đàon xe quân đội kéo pháo, hay xe chở tên lửa đi qua con đường cắt ngang mặt trường học này, nhưng đó là vào năm 1972, vào thời điểm Mỹ đang ném bom miền Bắc trở lại hay đặc biệt là vào 12 ngày đêm tháng 12.1972, vào thời gian khi tôi học lớp 5 ở Trường cấp 2 Phượng Mao. Hiệu trưởng là thầy Pha, người làng (Mao) Giộc, thuộc xã Phượng Mao. Hiệu phó kiêm bí thư chi bộ đảng là Thầy Đài, người (Mao) Trung. Do bố tôi làm ở công ty thực phẩm huyện nên quen hầu hết các thầy cô giáo ở đây. Có lẽ vì nhu cầu trong thời kỳ đói kém  nên các thầy mới „cần phải quen“ với những người làmcông tác lương thực – thực phẩm thì đúng hơn. Điều này cho thấy, cái dạ dày nó luôn là yếu tố„quyết định“ cho con người khi đưa ra các hành động.

Bố tôi làm việc ở công ty thực phẩm huyện Quế Võ, nằm cách trung tâm Phố Mới độ 500 mét. chúng tôi nói ngắn gọn là ở Trại thực phẩm. Ông được phân cho một gian nhà ngay sát trại thực phẩm, nhà ba gian lợp ngói hẳn hoi và nó vốn thuộc sở hữu của Hợp tác xã Lửa hồng. Đây là một hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và buôn bán lẻ. Chẳng hạn họ làm cả ra mỳ sợi, từ bột mì, trước là Trung Quốc, sau này là do Liên Xô viện trợ cho Việt Nam. Khái niệm mì sợi chắc chỉ những người tuổi trên 45 mới hình dung ra.Bột mì được nhào trộn với nước cho đều rồi qua máy „cán“ thành sợi nhỏ hơn thân chiếc đũa ăn một chút, được „xoắn“ lại với nhau thành từng nắm rồi cho qua lò sấy  đốt bằng than hay củi, đó là loại mì đã sấy chín, còn loại để sống nguyên, không qua sấy. Có những mẻ sấy quá lửa, mì vàng ươm hoặc cháy đen thui. Mì được đưa về hệ thống cửa hàng lương thực và bán theo chế độ „sổ gạo“ cho cán bộ công nhân viên nhà nước. Đây là một trong những loại „lương thực“ độn, cùng với sắn khô, khoai lang, ngô hạt hay sau này là hạt bo – bo, bán kèm thay cho gạo mỗi khi miền Bắc mất mùa hay nhà nước không có gạo bán và „xin được viện trợ“ từ các nước khác, chủ yếu là từ Trung Quốc hay từ Khối các nước xã hội chủ nghĩa trong Hội đồng tương trợ kinh tế (khối SEV). Đến năm 1975 thì HTX Lửa Hồng giải thể, bố tôi được nhận tòan bộ khu nhà và mảnh vườn, một cái ao nhỏ cùng một cái sân khá rộng, tổng diện tích có lẽ đến hơn nghìn mét vuông. Khu này gồm một dãy nhà chính, xây gạch, lợp ngói và cỡ 4 gian, mỗi gian chiều ngang độ 4 - 5 mét, chiều sâu cũng khỏang 4-5 mét nữa. Tiếp theo là dãy nhà ngang, vốn dùng làm kho chứa đồ cho HTX, nay nhà tôi dùng làm bếp nấu ăn và làm 1 cái chuồng để nuôi lợn. Cái sân, trước đây có lẽ rộng cả trăm mét vuông, mặt nó được đầm bằng bộn vôi trộn, nhà tôi đã cậy lên một phần, chỉ để khoảng 40 m2 sát mặt nhà. Những mảnh sân cậy lên được ba anh em chúng tôi đập nát vụn ra và như vậy cái vườn trồng cây rộng tới gần ngàn mét. Trong vườn này, nhà tôi, mà chủ yếu là ba anh em trai chúng tôi, (trên tôi là hai anh trai, tôi thứ ba trong nhà) trồng mía, chuối (cả hai loại chuối ta và chuối tây), và điểm mấy loại cây quả khác như cây Trứng gà, cây Hồng xiêm, cây Vải thiều hay còn trồng thêm tới 3-4 cây cau. Vườn có đất vôi nên các loại quả rất to và ngọt. Đặc biệt là cây Trứng gà, có những quả to như cái bát ăn cơm, ruột vàng ươm, ngọt đậm và quả bở, ăn không khéo có thể bị nghẹn. Hoa quả nhà tôi nhiều đến mức ăn không hết và phải bán ra chợ. Chẳng hạn như chuối, có khi mỗi tuần bán một buồng, mía thì có vụ bán cây, có vụ nhà chặt rồi thuê máy ép mía về ép nước để nấu đường. Trứng gà, Hồng xiêm hay vải thiều thì nhà tôi thường đem biếu họ hàng và cho các nhà quen chứ không bán. Những năm 76, 77 bố tôi còn „làm việc“ được với xã Phượng Mao, họ cho nhà tôi „mượn canh tác“ cả mấy sào ruộng và thế là bố tôi cùng ba anh em cũng trồng khoai (khoai sọ và khoai lang), cấy lúa ở những thửa ruộng đó. Trong nhà có lẽ ông anh thứ hai là khéo tay nhất trong nghề nông chứ anh cả và tôi thì vụng hơn. Chúng tôi biết cấy lúa, biết tát nước gầu sòng, gầu dai nhưng không biết cày ruộng. Ông anh hai làm được hết, thậm chí còn biết cả thịt lợn nữa! Nhờ có nhà, vườn, ruộng rộng nên có thể nói, nhà tôi lúc nào cũng „thừa ăn“, nếu các gia đình khác (thời đó) một tháng có độ dăm ba bữa cơm ăn có thịt, cá, ở nhà tôi ngày nào cũng có và ngay từ những năm này, nhà tôi cũng không hề biết „ăn độn“ là gì.

Nhà tôi rộng, vì lúc này chỉ có bố tôi cùng  ba anh em, về sau còn hai đứa em trai nữa về đây ở, ba cô con gái thì ở với mẹ tại Bắc Ninh. Chính vì thế luôn có học sinh của trường cấp 3 Quế Võ, những anh /chị có nhà ở xa trường, tới 15 -20 km, như ở Đông Du, hay các làng gần Phả Lại, tới „trọ học“, thực chất là nhà tôi cắt hẳn một gian ra cho ở nhờ, chứ không hề lấy tiền thuê nhà như bây giờ. Do những học sinh này đều học cùng trường với các anh em chúng tôi tại Trường cấp 3 Quế Võ (đầu). Ông anh cả tôi học thuộc loại khá của trường, năm anh tốt nghiệp lớp 10 (1975) thì đúng lúc tôi bước chân vào học lớp 8. Tuy nhiên, từ khi tôi vào trường cấp 3 Quế Võ học, nhất là khi đã hết lớp 8 và tới giữa lớp 9 thì tiếng đồn „học giỏi khét tiếng“ về tôi đã vang khắp huyện này, thậm chí đến học sinh của Trường cấp 3 Hàn Thuyên (thuộc thị xã Bắc Ninh) cũng biết và kiêng nể. Trong trường có một thày giáo dạy văn, đã từng du học ở Nga về, có lần đã tuyên bố, rằng trong đời chưa cho học sinh nào điểm 10 môn văn nhưng năm lớp 9, là ông thầy dạy văn lớp chúng tôi, đã „tặng tôi“ tới mấy điểm 10. Vì thế, điểm trung bình môn văn của tôi vào năm lớp 9 này đạt 8,8 hay 8,9 gì đó. Với tôi, những môn học khác như Lịch sử, Địa lý, Sinh vật và đặc biệt là Ngoại ngữ (tiếng Anh), chỉ cần học tại lớp cũng đã được điểm 10, đâu có cần phải học thêm. Còn các môn chính khác như Tóan, Lý, Hóa học thì lại đúng sở trường. Cả 7 môn học nói trên năm nào tôi cũng từ 9 rưỡi trở lên hay tròn luôn 10 phẩy! Cùng khóa với tôi tại trường này còn có một bạn khác, tên Quân, học lớp  B (8B, 9B và 10B) bố mẹ vốn là cán bộ miền Nam tập kết, nhà ở mạn Đông Du, tới nhà tôi trọ học. Quân cũng thuộc loại học giỏi các môn tự nhiên (nhưng các môn xã hội thì chỉ khá). Chúng tôi thường hay bàn bạc, tranh cãi với nhau về các cách giải các bài tóan trong Tuyển tập các bài tóan chọn lọc cấp 3. Trong kỳ thi vào đại học mùa hè 1978, Quân được 17 điểm rưỡi, đủ điểm để vào học Đại học bách khoa Hà Nội. Quân hơn hẳn tôi về thể lực và đá bóng giỏi, còn tôi thiên về tư duy xã hội, vì thế cô giáo dạy chúng tôi môn tiếng Anh, người Hà Nội gốc, có lần nói với tôi „Em có trái tim buồn và một tâm hồn đa cảm!“ Năm lớp 9 Quân có dự tuyển phi công khi người của bên quân đội đi các trường cấp 3 tuyển sinh. Quân đã trượt ở vòng ba thì phải và lại quay về cấp 3 Quế Võ học tiếp cho đến lúc tốt nghiệp.

Kỹ sư Nguyễn Kim Phụng - gửi đăng
© Vietinfo.eu

>> Bình Luận tại bài 1: Những mảnh của cuộc đời (1)