vietinfo di động
Thư mục
Góc Bạn Đọc

Nguyễn Kim Phụng - Những mảnh của cuộc đời (5)

Cập nhật lúc 25-05-2015 03:08:20 (GMT+1)
Ảnh minh họa: Internet

Cuốn tự truyện này tôi đã có ý định viết từ lâu xong cứ như mọi sự đều có duyên. Sau khi viết và được trang mạng vietinfo.eu đăng tải bài báo với tiêu đề  „30-4, Việt Nam sau 40 năm sau ngày thống nhất“, một bài báo có nhiều phản hồi, khen cũng nhiều mà chê trách, dọa nạt cũng có, tôi quyết định bắt đầu viết tự truyện này. Tôi hy vọng nó sẽ ít nhiều bổ ích cho nhân sinh quan – thế giới quan của bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc. 

>Nguyễn Kim Phụng - Những mảnh của cuộc đời (4)


Mỗi lần ngã là một lần bớt dại,
Ai nên không mà chẳng dại đôi lần!

Năm 1974 tôi học lớp 6B và năm 1975 thì là lớp 7B trường cấp II Ninh Xá. Tôi không còn nhớ rõ trong lớp có bao nhiêu bạn học nữa nhưng có mấy người bạn tôi còn lưu lại trong đầu. Người bạn, có thể nói là thân nhất từ nhỏ tới nay, là Trần Quang Trung.

Trần Xanh là.bố của Trung, người mà khi còn sống tôi vẫn gọi là chú Xanh. Chú Xanh là người Hà Tĩnh, sinh năm 1927. Theo lời kể thì chú cũng tham gia cách mạng (Việt Minh) từ nhỏ. Vào năm 1961, chú Xanh cùng một đòan học sinh sang Liên Xô học (Nguyễn Quang Tiến, Trần Nhẫn, Nguyễn Văn Ninh, Hồ Sĩ Hưu, Lê Thanh Cảnh...) đầu tiên là ở học viện pháo binh tại Moskva, sau đó chuyển xuống Học viện phòng không Kijev (thủ đô nước Ukrajna bây giờ). Sau khi tốt nghiệp với tấm bằng đỏ, chú về nước vào năm  1964 (thì phải) và cũng vào thời điểm đó, Quân đội nhân dân Việt Nam cho thành lập Bộ đội phòng không, tức bình chủng phòng không bây giờ.

Ngày 7.1.1965, trung đòan cao xạ 236 (Đòan Sông Đà), mà thực chất là đây là trung đòan tên lửa đầu tiên của QĐNDVN được Bộ quốc phòng ra quyết định cho thành lập, tới năm 1965 lập thêm một trung đòan nữa, 238 (Đòan Hạ Long). Vào năm 1967, chú Xanh, được cử làm trung đòan trưởng trung đòan tên lửa 236, tới năm 1969 được lên chức tham mưu trưởng sư đòan phòng không 361 (do hai trung đòan kia sáp nhập lại), năm 1971 lên Phó tư lệnh sư đòan 361, năm 1979 lên sư đòan trưởng sư đòan 361 này.

Từ năm 1982 là Phó tư lệnh quân chủng phòng không kiêm cục trưởng cục huấn luyện nhà trường thuộc Bộ quốc phòng. Năm 1984 được phong hàm thiếu tướng. Nên nhớ, trước năm 1989, số tướng lĩnh của Việt Nam, cả trong quân đội lẫn bên cảnh sát, rất ít vì hồi đó không có chuyện „mua bán chạy chức“ như bây giờ, khi mà „giá mua hàm thiếu tướng ngày nay độ 100 000 USD“ cho nên cả bên văn phòng chính phủ lẫn bên văn phòng chủ tịch nước „tranh giành nhau“ việc phong tướng này!!!.  Chú Xanh đã mất năm 1988, 4 năm sau khi tôi tốt nghiệp đại học bách khoa Praha và về nước vào cuối năm 1984.

Cô Từ, vợ chú Xanh, là người Bắc ninh gốc và mẹ tôi biết rất rõ về gia đình bố mẹ cô Từ. Hơn nữa, trước đó cũng có chuyện mối lái để cô Từ lấy cậu Diệp, em ruột mẹ tôi, nhưng không thành vì Hôn nhân cũng phải có duyên số. Đây chính là ông cậu có cửa hàng ở 78 Hàng Giấy, Hà Nội. Dòng họ Đỗ, họ của cô Từ, vợ chú Xanh, cũng là một dòng họ nổi tiếng ở vùng Từ Sơn – Đình Bảng, cũng là trấn thuộc Kinh Bắc. Anh trai thứ hai trong nhà cô Từ, Đỗ Hữu Nghĩa, là một trong số mấy thanh thiếu niên đầu tiên được Bác Hồ cứ đi học nước ngoài. Trước là học ở Trung Quốc, và sau năm 1954 thì đi Liên Xô học. Bố của bác Nghĩa, cô Từ cũng đã từng làm quan trong triều đình Bảo Đại.

Bác Nghĩa đã đeo lon đại tá quân đội từ những năm đầu thập kỷ 60, sau đó do có cuộc „thanh trừng xét lại“ trong đảng lao động Việt Nam (đảng CS VN khi ấy mang tên như vậy) và trong quân đội, nhiều cán bộ cao cấp, được đào tạo chính qui từ Liên Xô về bị phe Lê Duẩn, khi đó đang ngồi trên ghế bí thư thứ nhất đảng LĐVN, „đánh tơi bời“, nên bác Nghĩa bị giáng chức xuống trung tá và cứ „dậm chân tại chỗ“ với cái chức này, thậm chí tôi còn nghe phong thanh, rằng vì cuộc thanh trừng xét lại, bác Nghĩa cả một thời gian dài không được sử dụng, thậm chí còn bị theo dõi, bị „giam lỏng“. Cho đến tận cuối những năm 80, bác mới được phục hồi và rồi sau được phong tướng.

Thời Lê Đức Anh làm chủ tịch nước, nghe đâu bác Nghĩa là cố vấn cho ông chủ tịch nước này, đồng thời thành viên quan trọng trong phái đòan Việt Nam đàm phán với Trung Quốc về vấn đề biên giới phía Bắc sau khi Việt – Trung bình thường hóa quan hệ với nhau sau cuộc chiến năm 1979. Bác Nghĩa nay cũng đã mất. Có thể nói, đây là hai cán bộ cao cấp cộng sản mà tôi đã từng có duyên gặp gỡ, nói chuyện và được họ coi như con cháu trong nhà, là hai người có cả học thức và cả Tâm!

Gia đình chú Xanh – cô Từ cũng ở trong một ngôi nhà mặt tiền phố Tiền An, chỉ cách nhà tôi có độ 300 mét. Đây là nhà của nhà nước, tầng mặt đất là hiệu thuốc quốc doanh (tức là của nhà nước) mà cô Từ bán ở đó, tầng hai là nơi gia đình sống. Khi học ở Nga về năm 1964, chú Xanh cũng mua được một cái TV đen trắng, hình như nó là TV Saturn hay Nepturn thì phải và nó vẫn còn họat động nhờ những cái bóng đèn điện tử to tướng chứ chưa có những con chíp bán dẫn nhỏ như các thế hệ TV sau này và vào những năm 70, nhà nào có TV là óach lắm.

Cả cái phố Tiền An khi đó chỉ có độ 3-4 nhà có TV. Mỗi khi có phim hay, hoặc là có đá bóng, người trong, người ngòai đến xem lúc nhúc. May là vì nhà chú Xanh ở tầng 2 nên chỉ có người nhà hay con cháu mới lên „xemTV nhờ“ được. Tôi còn nhớ mãi giải bóng đá thế giới năm 1974 tổ chức ở Tây Đức. Năm đó, phe XHCN có 4 đội được lọt vào vòng chung kết, khi đó vòng chung kết giải vô địch bóng đá thế giới chỉ có 16 đội, 14 đội qua đấu loại + đội chủ nhà (Tây Đức) và đội đương kim vô địch (Brasil), đó là Bungari, Balan, Đông Đức và Nam Tư. Đội Balan khi đó với các cầu thủ tên tuổi như thủ môn Lubanski, các tiền đạo như Szarmach, Boniek hay hậu vệ Lato, được ví như Con đại bàng trắng. Dân chúng Việt Nam khi ấy cổ vũ (tất nhiên là ngồi cạnh màn hình TV) cho Balan rất nhiều. Một trận đáng lưu ý là trận Đông Đức thắng Tây Đức 1-0 trong trận đấu ở bảng.

Thế nhưng vào giai đoạn này, lối đá tổng lực của Hà Lan (cơn lốc màu da cam, với các danh thủ còn lưu danh đến ngày nay như Johan Cruijft, Rob Renssenbrink hay hai anh em ruột Van de Kerhhof... ) được người xem ủng hộ nhất. Đáng tiếc, họ chỉ giành được huy chương bạc. Huy chương vàng phải để lại cho đội chủ nhà – Tây Đức, với những cầu thủ xuất sắc nhất thế giới bấy giờ, như Franz Beckenbauer (đội trưởng), Gerd Muler, Rummeninger hay thủ môn Maier. Nhờ bạn Trung mà tôi đã được xem bóng đá thế giới từ những năm 74 là vì thế.

Chú Xanh ở đơn vị phòng không nên chỉ thỉnh thoảng mới về nhà. Khi về nghỉ phép, thường 1 tuần, chú có xe com – măng – ca (xe u – óat của Nga) đưa về. Vào những hôm trời nắng đẹp mùa hè, chú lại cho mấy đứa con (chú Xanh, cô Từ có ba con trai – Trung, Quang và Thảo và cả ba học cùng giỏi)  và cả tôi đi xe lên sông Cầu để bơi sông. Nói đến tỉnh Bắc Ninh, ngoài những thứ khác ra, người ta bao giờ cũng nhắc đến dòng sông Cầu thơ mộng. Nó khiến tôi nhớ đến bài thơ  - Nhớ con sông quê hương của nhà thơ Tế Hanh:


Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre...

Sông Cầu, trước đó còn có tên gọi là sông Như Nguyệt (Thời Lý, Trần) hay sông Nguyệt Đức hay Vũ Bình. Bắt nguồn từ đỉnh núi Phia Bioóc, thuộc tỉnh Bắc Kạn ngày nay, chảy ngoằn ngòeo qua hai dãy núi Ngân Sơn và Sông Gâm, qua tỉnh Thái Nguyên rồi về tới tỉnh Bắc ninh. Nó là gianh giới giữa hai huyện Việt Yên (thuộc Bắc Giang) và  Yên Phong (thuộc Bắc Ninh) rồi khi đến vùng Phả Lại thì hợp lưu với sông Thương (chảy qua tỉnh Bắc Giang) để tạo thành sông Thái Bình. Đoan sông chảy gần thị xã Bắc Ninh có thể nói là đẹp nhất. Nước trong xanh, hiền hòa. Chúng tôi hay đi bơi ở đoạn cách cầu Đáp cầu mất trăm mét về phía thượng lưu.

Tôi biết bơi giỏi cũng nhờ được chú Xanh dạy mấy chiêu, từ bơi trườn sấp tới bơi ngửa, hay bơi Bướm, bơi ếch. Đại loại là mấy kiểu bơi cơ bản. Những lúc đi tắm sông, tôi lại cùng bạn bè được chứng kiến cảnh những người đi thuyền buồm trên sông vất vả như thế nào. Cái thời ngày xưa, thuyền hay ca nô gắn máy ít lắm. Trên sông người ta hoặc là dùng buồn chạy hay phải gò lưng ra mà kéo thuyền mỗi khi ngược dòng và không có gió thổi. Hai hoặc ba người mình trần nhễ nhại, khóac vào vai những chiếc chão to tướng quàng chéo qua vai, đầu kia được buộc chạy vào cái thuyền, rồi từng bước lê đi theo bờ sông để con thuyền từ từ lội ngược dòng chảy. Nếu không nhìn thấy tận mắt thì ai cũng nghĩ ngồi thuyền buồm, để thuyền cho gió thổi tự bơi, rồi ung dung uống rượu ngắm trăng quả là tuyệt vời phải không?

Lớp 6 B và sau đó là 7B nơi tôi học là lớp tập trung nhiều học sinh giỏi của trường cấp II Ninh Xá. Nếu tôi không lầm thì trường Ninh Xá khi đó có 4 lớp7 (A, B, C, D), 5 lớp 6 từ A tới E và 6 lớp 5. Sau mỗi năm học, một số học sinh bị đúp, không được cho lên lớp, vì thế số lượng lớp học giảm theo chiếu đi lên trên là vì thế. Đội học sinh giỏi tóan của trường (ứng với từng khối, chẳng hạn khối lớp 7, khối lớp 6...) có 8 bạn thì lớp tôi đóng góp tới 5 (Tỏan, Yêm, Trung, Phụng và Hồng – tòan con trai).

Tuy tôi học văn khá nhưng không muốn tham gia vào đội học sinh giỏi văn của trường. Tôi còn nhớ tới một bạn khác cùng lớp, tên là An, con của một gia đình cán bộ tập kết. Bố của An vốn là cán bộ Việt Minh, ở Đà Nẵng thì phải. Vào năm 1954, sau khi hiệp định Giơ Ne Vơ được ký kết, theo thỏa thuận, các cán bộ Việt Minh (theo cộng sản) được đưa ra miền bắc, tức là lên phía bắc của vĩ tuyến 17, gianh giới tạm chia cắt hai miền Nam – Bắc khi ấy. Những người ra bắc được gọi là „cán bộ tập kết“. An làm quản ca của lớp và sau ngày 30.4 năm 1975, An lại về miền Nam theo bố mẹ. Với người bạn tên An này tôi có một kỷ niệm khó quên. Vào thời ấy, những loại sách truyện tình „ướt lướt thướt“ hay có chút sếch si bị cấm tiệt, ai lưu hành có thể bị công an bắt bỏ tù.

Một đứa bạn cùng lớp, chẳng hiểu kiếm đâu ra được bản chép tay truyện „Vụ án thành Ba – Lê (thành Paris)“ với nội dung về một cô gái làm nghề điếm, kiếm tiền nuôi thân. Tất nhiên trong truyện này cũng có những đoạn mô tả thân hình gợi cảm của phụ nữ hay những đoạn làm tình với nhau thế nào. Là một đứa „cứ cái gì có chữ là đọc“, tôi cũng cố mượn bản chép tay đó bằng được để đọc chơi! Không ngờ việc này bị An phát hiện và tôi đã phải „hối lộ“ An bằng một bữa ăn sáng, tôi không nhớ, đó là cái bánh mỳ, củ sắn luộc hay một gói xôi, giá 2 hào thì phải. Ở thời kỳ này, một bát phở „có người lái hẳn hoi“, giá có 5 hào, để bạn An khỏi đem chuyện này ra mách cô giáo chủ nhiệm - cô Thủy!

Kỹ sư Nguyễn Kim Phụng - gửi đăng
© Vietinfo.eu

>> Bình Luận tại bài 1: Những mảnh của cuộc đời (1)