vietinfo di động
Thư mục
Góc Bạn Đọc

Nguyễn Kim Phụng - Những mảnh của cuộc đời (10)

Cập nhật lúc 29-06-2015 22:59:09 (GMT+1)

   Chủ nghĩa Mác – Lê – Mao đã tạo nên nhiều kẻ cuồng tín và mất hết nhân tính. Do chủ trương „dùng bạo lực để thiết lập chuyên chính vô sản (bị biến đổi thành chuyên chính của giai cấp công – nông cho phù hợp với Trung Quốc – Việt Nam, là những nước nông dân chiếm đa số) và áp dụng triệt để triết lý „mục đích biện minh cho phương tiện“, những tên trùm cộng sản đã không từ bất cứ thủ đoạn nào để đạt được mục đích cuối cùng của chúng – leo lên đỉnh cao quyền lực cá nhân hay dành độc quyền lãnh đạo đất nước cho nhóm lợi ích của chúng, núp dưới cái tên Đảng cộng sản!

>> Nguyễn Kim Phụng - Những mảnh của cuộc đời (9)

Những mảnh vụn của cuộc đời - Phần 10

   Năm 1979 để lại trong lứa chúng tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Mượn cái cớ „dạy cho tiểu bá Việt Nam một bài học“, ngày 17.2.1979  vào khỏang 5 giờ sáng, Trung Quốc chính thức tấn công Việt Nam ở tòan bộ biên giới phía bắc. Trong thực tế, quan hệ giữa hai nước „cùng mác cộng sản“ Việt Nam – Trung Quốc đã căng thẳng từ lâu. Ngay từ sau ngày 30.4.1975, tức là ngày Việt Nam thống nhất, Trung Quốc đã sử dụng bè lũ tay sai mao ít của mình tại Campuchia liên tục tấn công ở biên giới tây nam Việt Nam và bè lũ Mao ít này cũng đã gây ra nạn diệt chủng ở Campuchia, giết hại tới 3 triệu „đồng bào“ của mình, đặc biệt là giới trí thức.

Để tự bảo vệ và cũng là „bảo vệ quyền lợi“ của mình, Việt Nam đã „giúp“ thành lập mặt trận giải phóng Campuchia và năm 1978 đã đưa quân sang quét sạch bè lũ Polpot, lập lên chính phủ thân Việt Nam tại nước này. Cũng trong năm 1978 tại Việt Nam xảy ra cái gọi là „nạn kiều“.Những người Việt gốc Hoa, không hiểu do lấy tin từ đâu, đã lần lượt dời khỏi Việt Nam vì sợ hãi. Có cả tin đồn, rằng an ninh Việt Nam giả dạng tới từng nhà hoa kiều khuyên họ rời khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt kẻo thiệt thân, có cả tin đồn rằng người của Trung cộng cố tình phao tin gây hoang mang để hoa kiều lũ lượt quay về chính quốc, nhằm tạo ra cớ đánh Việt Nam.

Có lẽ cả hai cái tin đều có phần sự thật. Tuy Việt Nam lờ mờ hiểu, rằng Trung Quốc sẽ đánh mình nhưng giới lãnh đạo Việt Nam vẫn bị bất ngờ khi Trung Quốc nổ súng tấn công. Một bằng chứng nhỏ để chứng minh cho cái khẳng định này là đám cưới của con trai Lê Duẩn, cố tổng bí thư đảng cộng sản Viêt Nam, được tổ chức đúng vào ngày 17.2 này, nếu biết trước có lẽ ông Lê Duẩn đã cho hõan lại. Bà bác tôi sống ở Thị xã Lạng Sơn kể lại, rằng thậm chí xe tăng Tàu chạy vào tới giữa thị xã mà dân chúng vẫn cứ tưởng là xe tăng Việt Nam vì chúng cũng dùng cờ đỏ cắm trên nóc xe tăng!

Qua sự việc này chúng ta thấy, những tên trùm cộng sản, về thực chất, chỉ là những tên độc tài khát máu, những lý luận trên miệng lưỡi chỉ là giả tạo còn khi hành động, chúng bất chấpluân thường đạo lý, bất chấp cả các công ước quốc tế, hiệp định quốc tế. Việc „thằng anh cộng sản tàu“ đem hàng chục vạn quân đánh „thằng em cộng sản Việt Nam“ là một minh chứng hùng hồn, rằng cái mớ lý thuyết của chủ nghĩa Mác- Lê  - Mao chỉ là một món hổ lốn, ai muốn áp dụng kiểu gì cũng được, miễn là đem lại một cái lợi nào đó cho cá nhân những kẻ đang cầm quyền. Phải nói thực, rằng tâm lý gét người Tàu, căm thù giặc Tàu đã ăn sâu vào tâm khảm của người Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Chúng tôi, khi đó đang ngồi học tại Đại học ngoại ngữ Thanh Xuân, cũng giống như tất cả mọi tầng lớp người Việt Nam khi đó, trong lòng đều bừng bừng khí thế „sát thát!“. Ban giám hiệu đề nghị sinh viên viết đơn „tình nguyện nhập ngũ“, tuy là việc viết đơn là „tự giác“ nhưng tôi cho rằng nếu sinh viên nào không viết sẽ bị cho thôi học luôn! Tất nhiên là chúng tôi đa số đều thực sự tự nguyện viết đơn, thậm chí có bạn còn lấy máu để viết đơn nữa kia và đây là bạn H, cũng trong nhóm sinh viên đi Tiệp Khắc, sau này cũng học khoa máy của trường Đại học bách khoa Praha ČVUT cùng tôi: Bức thư tình nguyện nhập ngũ viết bằng máu này đã được đọc công khai trong buổi tập trung tòan trường đại học ngoại ngữ (kể cả Lưu học sinh lẫn sinh viên của hệ đào tạo trong nước).

Trong tâm khảm chúng tôi còn vang mãi bài ca „Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới, gọi tòan dân ta vào cuộc chiến đấu mới, quân xâm lược bành trướng dã man, đã dày xéo mảnh đất quê hương, lửa đã cháy và máu đã đổ, trên khắp dải biên cương...“ hay bài hát Chiều dài biên giới, đã được ông thầy dạy tiếng Séc của chúng tôi là Maxmilian Konečný chuyển sang lời tiếng Séc, mà tôi vẫn còn thuộc mấy câu đầu:

Vietnam je náš,
Vietnamcům je ta zem
tisíce let dějin,
na věčná léta,
my zde budem jejím pánem!

(Tạm dịch: Việt Nam là của chúng ta, đất nước này thuộc về người Việt, đất nước của hàng ngàn năm lịch sử và chúng ta sẽ mãi mãi là chủ nhân nơi này). Cũng thời gian này, chủ tịch nước đã ra lệnh „tổng động viên“, tất cả thanh niên trai tráng trên 18 tuổi, kể cả bộ đội đã phục viên, lại nhập ngũ. Rất may là sinh viên các trường đại học tạm thời chưa „bị“ gọi lên đường, vì thế lớp sinh viên ưu tú chúng tôi không „được“ cầm súng bảo vệ tổ quốc là lẽ đương nhiên!

   Sau khi Trung Quốc, không nuốt được Việt Nam trong trận chiến biên giới phía bắc vì nhiều lý do, chúng đành phải đơn phương tuyên bố rút quân. Có điều là sau khi Việt Nam đem quân sang Campuchia, dựng lên ở đây một chính quyền, mà nhiều người gọi là „bù nhìn“, Việt Nam cũng bị cô lập trên trường thế giới: Trung Quốc lẽ dĩ nhiên là cắt bỏ mọi khỏan viện trợ, dù là tự nguyện hay theo các cam kết đã thỏa thuận và thêm vào đó là phong tỏa đường sắt nối từ Nga qua Trung quốc tới Việt Nam.

Vì vậy, hàng hóa hay chuyên gia của khối XHCN, đứng đầu là Liên Xô, cùng với các nước Đông Âu khác, chỉ được đưa sang VN qua đường hàng không hoặc đường biển. Đó cũng là lý do tại sao lứa du học sinh đầu tiên đi máy bay sang châu Âu rơi đúng vào năm chúng tôi. Do sa lầy ở Campuchia và các tổn thất ở phía bắc, Việt Nam rơi vào tình hình rất khó khăn về kinh tế, thiếu lương thực và các nhu yếu phẩm, hàng tiêu dùng trầm trọng. Từ tháng 3.1979, chúng tôi đã bắt đầu phải ăn hạt bo bo thường xuyên hơn hay các khẩu phần cũng bị cắt giảm bớt.

   Một sự kiện cũng đáng nói ở đây là chúng tôi cũng được huy động đi lao động XHCN một tuần – đi đào và nạo vét sông Tô Lịch (Hà Nội). Nghe đâu Thụy Điển cho tiền để tiến hành cải tạo con sông Tô Lịch. Chúng tôi không biết trị giá viện trợ bao nhiêu, nhưng chắc rằng chúng đã bị chính phủ VN xà xẻo nhiều để chuyển sang cho cho quốc phòng - an ninh. Nghe đâu mỗi người đi làm việc nạo vét sông Tô này đáng lẽ được tiền và các khỏan bồi dưỡng như đường sữa thịt, do phía Thụy Điển chi tiền, nhưng trong thực tế, bọn sinh viên chúng tôi chẳng được cái gì ngoài bữa ăn hàng ngày ra.

Hồi đó,việc nạo vét sông tòan làm bằng tay hết. Cả hàng người nối nhau xếp thành một hàng dọc, từ lòng sông lên tới bờ. Người dưới lòng sông dùng „kéo“ cắt đất thành khối rồi người bốc lên, chuyền tay nhau để đưa tới chỗ để đắp vào bờ. Đáng lẽ đất đắp bờ phải được lèn chặt xuống, không để các lỗ hổng trong thành bờ để khỏi bị sạt lở sau này mới phải. Ngược lại người phụ trách chúng tôi lại „chỉ dẫn“ cho sinh viên đắp các viên đất to này cho khéo để nhanh „hoàn thành kế hoạch“ đắp được 100 mét bờ chẳng hạn.

Từ đó ta đã thấy rõ, rằng sự giả dối đã „ăn sâu“ vào con người Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ trước, mà đây lại còn là các thành phần trí thức hẳn hoi, nói gì là đến các thành phần khác trong xã hội Việt Nam. Những dối trá, giả tạo của cấp trên cứ lan truyền dần xuống cấp dưới và gây ra phản ứng dây chuyền trong tòan xã hội.

   Trong chương trình học tại trường ĐHNN Thanh Xuân, chúng tôi học một số môn cơ bản của năm thứ nhất bậc đại học, chẳng hạn như Tóan, Lý, Hóa...và tất nhiên là môn tiếng Séc (hoặc Slovakia). Tất cả các môn đều học bằng tiếng Séc để làm quen dần và để sau này có thể theo học được ở nước ngoài. Khi đó, cả lớp mới có 1 cuốn từ điển tiếng Tiệp thì phải, và cuốn này cũng chỉ có vẻn vẹn độ 20 ngàn từ vựng. Trong năm tôi có vài người thông minh tuyệt đỉnh, có thể họ học thuộc lòng cả cái cuốn từ điển này.

Tới tháng 6 năm 1979, chúng tôi cũng đã kết thúc khóa học chuẩn bị tại trường ĐHNN Thanh Xuân, tất nhiên cũng thi cử đàng hoàng. Ai rớt sẽ phải ở lại học đại học trong nước. Hồi đó cũng có tiền lệ, rằng ai thi vào đại học đạt 27 điểm /3 môn trở lên, sẽ được „tập trung“ lên Vĩnh Yên, học tại trường đại học quân sự ở đó 1 năm rồi sang Nga vào trường Đại học tổng hợp Lomolosov học.

Những người được từ 23,5 điểm tới 26,5 đi Đông Âu (Đức, Balan, Tiệp...) và dồn lại những ai được từ 21 điểm tới 23 điểm lại đi Nga học các trường khác. Như vậy, chúng tôi, sinh viên đi Đông Âu học, thuộc loại „thường thường bậc trung“. Hầu như ai cũng học hành tử tế và thi đạt kết quả tốt, không ai bị bỏ lại. Trong nhóm đi Tiệp lại còn lựa ra một nhóm „xuất sắc nhất“ để cho đi học thẳng, tức là bỏ qua học tiếng thêm 1 năm nữa tại Tiệp Khắc, ở các trung tâm dạy tiếng, mà vào luôn năm thứ nhất của trường đại học, nơi họ sẽ được cử tới học. Nếu tôi nhớ không lầm thì nhóm này có 9 người thì phải.

Tháng 9 năm 1979, chúng tôi được nhận giấy tập trung tại trường và vào một ngày mùa thu đẹp trời, chúng tôi lên những chiếc xe du lịch mác Hải Âu (xe do Nga sản xuất), để đi tới sân bay Nội Bài. Chiếc máy bay IL 62 của hàng hàng không Aeroflot (Liên Xô) đã chờ sẵn và cuộc hành trình tới thiên đường của chúng tôi đã bắt đầu!

(Đính chính cho phần 9: (1) Lớp TK2 mới là lóp đi học quân sự ở Brno; (2) Riêng trường cấp 3 Lý Thường Kiệt (Hà Nội) có tới 5 người được đi học Tiệp Khắc năm này, đó là Thành, Phụng (loe), Tú 3G, Dũng Trương Thái và Long (H). Trong TK1 có 2 bạn học trường Chu Văn An (Hà nội) là Phan Ngô Tống Hưng và Dương Phan Cường, 2 bạn học Phổ thông công nghiệp Trần Phú là Luân và Sơn.)

 

Kỹ sư Nguyễn Kim Phụng - gửi đăng
© Vietinfo.eu

>> Bình Luận tại bài 1: Những mảnh của cuộc đời (1)

 

Lựa chọn vietinfo di động

VietInfo Group

Liên hệ gửi bài: BBT@vietinfo.eu
Liên hệ quảng cáo: quangcao@vietinfo.eu ,
Tel.:+420 777 007 989 (chỉ liên hệ quảng cáo)

Vietinfo.eu được phát hành theo giấy phép và luật thông tin của EU.

Copyright © 2008 - 2020 VietInfo Group

Chọn hiển thị:

Chọn khổ chữ: