vietinfo di động
Thư mục
Góc Bạn Đọc

Nguyễn Kim Phụng - Những mảnh của cuộc đời (2)

Cập nhật lúc 04-05-2015 20:00:00 (GMT+1)
Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet

Cuốn tự truyện này tôi đã có ý định viết từ lâu xong cứ như mọi sự đều có duyên. Sau khi viết và được trang mạng vietinfo.eu đăng tải bài báo với tiêu đề  „30-4, Việt Nam sau 40 năm sau ngày thống nhất“, một bài báo có nhiều phản hồi, khen cũng nhiều mà chê trách, dọa nạt cũng có, tôi quyết định bắt đầu viết tự truyện này. Tôi hy vọng nó sẽ ít nhiều bổ ích cho nhân sinh quan – thế giới quan của bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc.

Đính chính:

tác giả nhớ nhâm, xin đính chính lại cho chính xác:  ...Ông đã trực tiếp tham gia trận Điện Biên Phủ, có bị thương nhẹ và cũng đã được nhận Huy chương quân công hạng nhất và Huân chương chiến công hạng ba.

>Nguyễn Kim Phụng - Những mảnh của cuộc đời (1)


Quê hương ngày hai buổi đến trường,
nhớ quê hương qua từng trang sách,
ai bảo chăn trâu là khổ?...

    Tôi sinh tháng năm năm 1961, đến tháng chín năm 1967 tôi bắt đầu đi học lớp 1, so với nhiều bạn là sớm được mấy tháng vì ai sinh sau tháng 9 sẽ phải đi học muộn mất 1 năm. Giờ đây tôi chỉ còn nhớ mang máng, rằng cái lớp 1 của chúng tôi được đặt trong một ngôi chùa nhỏ, nằm ngay trên mặt phố Vệ An, đoạn gần với cổng chính của trường Trung cấp thống kê Bắc Ninh. Đằng trước lớp học có một cây đa, chắc tuổi cũng vài trăm năm vì rễ mẹ, rễ con rủ xuống nhiều tầng, nhiều lớp. Một điều đặc biệt là trong lớp này có tới 3-4 anh chị em họ ngoại nhà tôi cùng học với nhau.

Năm 1968, để trả đũa lại chiến dịch tết Mậu Thân, Mỹ leo thang chiến tranh ở miền Bắc, máy bay Mỹ bỏ bom nhiều. Hơn nữa, nhà ga Bắc Ninh và cầu Đáp Cầu, bắc qua sông Cầu, lại là hai điểm máy bay hay đánh phá nên bố tôi quyết định cho tôi đi sơ tán về quê, về Kim Thành, Hải Dương, gửi tôi cùng đứa em gái sau tôi về cho ông nội trông.

Hai anh trai cùng với cậu em kế tiếp ở lại với bố mẹ. Ở nhà với bố mẹ ăn sướng hơn vì dù sao nhà tôi cũng thuộc loại khá giả nhưng về với ông nội thì khổ thật! Nhà quê thời đó, gạo không có đủ mà ăn, phải ăn độn. Ở cái huyện Kim Thành này, đồng chua, nước lợ nên năng suất lúa rất thấp.

Dân ở đây thời đó toàn phải ăn độn với khoai lang. Đây không phải là khoai lang luộc hay nướng, ngon và hiếm như bây giờ!, mà là khoai lang sắt con chì, giống như người ta sắt khoai tây để làm món khoai tây rán – Hranolky, và phơi khô. Mỗi khi nấu cơm lại cho vào nấu cùng gạo.

Có khi 1 phần gạo 3, 4 phần khoai. Khi sới ra bát, chỉ thấy khoai là chính còn hạt cơm thì bám trên các thanh khoai lang đó, đôi lúc còn bị những miếng khoai lang hà, ăn đắng ngoét. Mấy bữa đầu tôi còn cố nuốt nhưng sau đó thì cứ gạt khoai ra mà chỉ ăn cơm, đôi lúc nước mắt rưng rưng.

Có lẽ tôi là đứa cháu học giỏi nhất trong dòng họ và lại có phần ngoan ngoãn nên ông nội rất thương. Những lúc như thế, ông liền gạt hết phần cơm của mình sang cho cháu ăn, còn mình thì ăn khoai không và trong khi ba bốn đứa cháu khác vẫn phải chịu ăn theo „chế độ chung“. Đây là những đứa con của chú ruột tôi, chú Lực, thời gian này đang làm trung đoàn trưởng thuộc sư đoàn tình nguyện quân Việt Nam đóng ở Sầm Nưa – Siêng Khoảng bên Lào, tới năm 1975 đã lên chức đại tá bốn sao và làm sư trưởng (hay là chính ủy?) của sư đoàn quân tình nguyện đó, còn bà Thím, vợ của chú Lực, lúc đó đang làm bí thư chi bộ xã Đại Đức, thuộc huyện Kim Thành.

Thương con, mẹ tôi thỉnh thoảng làm ruốc thịt, ruốc cá gửi về quê. Ở quê cũng có cái hay. Vào mùa tháng bảy, tháng tám, ông tôi đôi lúc ra sông Cái vớt rươi và chúng tôi lại được cải thiện một bữa ngon. Có lúc thì ông bắt đâu về được con ba ba to bự, chắc cũng nặng cả ký.

Chúng tôi lại xúm xít quanh ông nội xem ông làm thịt ba ba. Ông cho con ba ba cắn vào chiếc đũa rồi kéo chiếc đũa ra. Đặc tính của con ba ba là đã cắn vào cái gì là không có nhả ra và vì thế, khi ông kéo chiếc đũa ra, cái đầu con ba ba cũng từ từ thò ra khỏi chiếc mai bảo vệ.

Phập, ông liền hạ dao chặt một nhát, cái đầu ba ba liền rời khỏi thân. Ông cầm thân con ba ba và dốc ngược xuống, cho tiết chảy hết ra bát. Ông bắt mỗi đứa cháu uống một chút và nói uống tiết ba ba là để chống bệnh hen xuyễn! Như vậy là tôi học lớp 2 ở quê.

Tới cuối tháng 8 năm 1969, tình hình chiến sự ở Miền Bắc đã dịu đi nên bố mẹ tôi lại quyết định đón tôi về nhà. Giao thông khi đó đâu có như bây giờ, ông tôi và cả nhà chú thím tôi lại nghèo, bà thím có mỗi chiếc xe đạp còng cọc, hình như là chiếc xe Thống Nhất, dùng để đi công tác, nên hai ông cháu phải đi bộ hơn 30 km từ nhà ra ga tàu hỏa, nếu tôi không lầm thì ra ga Phú Xá, gần thị xã Hải Dương.

Từ đó hai ông cháu lên tàu tới ga Gia Lâm rồi chuyển tàu đi về Bắc Ninh. Từ nhà ga Bắc Ninh về đến nhà tôi, khi đó còn ở dốc Cầu gỗ, là đoạn đầu của phố Vệ an, chỉ có mấy trăm mét.  Số 4 cầu gỗ là khu nhà của ông ngoại tôi – của ông Lý (Lý đây là lý trưởng, chứ thú thực là tôi đã không nhớ tên thật của ông nữa).

Mẹ tôi đã góp tiền vào và mua lại được gian nhà phía trước của khu này, mặt trông ra dốc Cầu gỗ. Ông nội ở lại đây mới được có mấy ngày thì không may, ban đêm đi giải bị trúng gió độc, đưa lên viện 10 cấp cứu nhưng không được rồi mất. Thật đáng tiếc là những hình ảnh của ông không còn đọng mấy trong tôi do khi đó tôi còn quá nhỏ và thời gian ở với ông cũng không nhiều.

Lớp 3, lớp 4 tôi lại theo học ở trường cấp 1 Vệ An và luôn đứng nhất nhì trường!

Như tôi đã nói sơ qua, nhà tôi lúc này ở Cầu gỗ, trông đối diện với mặt phía bắc của Thành Bắc Ninh. Một điều đáng tiếc rằng cái ao, mà người Bắc Ninh cũ vẫn gọi là hồ thành, vốn chạy bao gần hết chu vi thành cổ, nay đã bị lấp gần hết để lấy đất xây nhà. Những năm cấp 1, tôi và bạn bè gắn bó nhiều với nó.

Chúng tôi, tụi trẻ con choai choai, bao lần tắm ở đây, bắt cá ở đây mà bắt cá kiểu „không giống ai“. Hai đứa song song đi trước, cách xa nhau độ 2 – 3 mét. Mỗi đứa cầm một thanh gậy, ở đầu dưới buộc dây chăng ngang. Như thế khi đi, sợi dây sẽ quét xuống mặt bùn ở đáy ao.

Lũ cá, chủ yếu là cá chép, động vào sợi dây sẽ rúc xuống bùn nhưng tăm cá vẫn sủi lên, đứa thứ ba đi đằng sau, nhìn vào nơi tăm cá sủi lên mà dùng nơm úp chụp vào chỗ đó. Đôi lúc chúng tôi cũng vớ bẫm, kiếm được vài ba chú cá chép nặng mấy lạng, kỷ lục là túm được con tới hơn 2 cân, có ria mép vàng và miệng vàng khè. Cái đáng nói nhất của hồ thành chính là Sen – hoa sen.

Cứ từ khoảng tháng 3, tháng 4 là lá sen đã xanh mướt mặt hồ, các nụ hoa đã nhô lên tầng tầng, lớp lớp và tháng 5, tháng 6 hồ đã đỏ rực hoa sen. Ngày ấy, nhà tôi cách hồ chỉ có 40, 50 mét, mặt trước nhà lại không bị che chắn gì cả, nên khi có gió đông nam thổi, hương thơm của hoa sen, của lá sen lại thoang thoảng khắp nhà.

Tôi đã đi nhiều nơi nhưng vẫn cho rằng cái hồ sen ngày xưa ở Bắc Ninh là một trong những hồ sen đẹp nhất nước. Hình như hồ sen do tổ bô lão quản lý thì phải. Chỉ thấy các cụ chèo thuyền lấy lá sen, hoa sen và bát sen để bán. Lá sen bán cho người dùng để gói xôi, gói cốm bán, hoa sen bán cho nhà chùa, cho người đi chùa hay cho người dùng nó để ướp chè mạn, còn bát sen để lấy hạt sen.

Hạt sen làm gì thì ai mà chẳng biết, làm mứt sen, nấu chè sen hay làm một vị thuốc nam chẳng hạn. Chúng tôi cũng hay ra hồ vặt trộm, trộm bát sen là chính và lý do là để chén hạt sen chứ ít khi lấy hoa. Sang mùa đông, sen rụng hết lá và thân sen cũng thối mủn dần đi, phần gốc (rễ), được gọi là ngó sen, thì nằm sâu dưới bùn. Chúng tôi cũng đôi lúc bơi hồ, ngụp lặn để đào ngó sen. Ngó sen dài, trắng tinh, tròn như thanh gậy nhỏ, phân nhiều nhánh, bên trong có nhiều lỗ rỗng và ăn rất mát, rất bùi.

Mọi người đều biết giá (giá đỗ để ăn chứ không phải giá cả hàng hóa) là gì nhưng các bạn có biết làm giá cầu kỳ thế nào không? Ngày nay có thể làm giá bằng dàn máy móc bán tự động chứ cái thời xa vắng xưa toàn làm bằng tay hết. Công đoạn đầu tiên là đạp đỗ!

Những ai có máu buồn không thể làm việc này được vì khi lòng bàn chân bạn chạm vào hạt đỗ, mà đây là cả thúng đỗ, bạn sẽ bị buồn  đến bủn rủn hết cả người. Thường là 4 – 6 cân đỗ một mẻ được cho vào thúng, bạn cứ dội nước vào và hai chân trần thì cứ liên tục dẫm đạp lên đỗ khoảng nửa tiếng, kỹ thì một giờ đồng hồ. Mục đích là cho hết những chất bẩn bám vào vỏ hạt đỗ và vỏ cũng mỏng đi, mầm dễ ra.

Sau đó hong cho khô và nhặt đỗ, tức là nhặt bỏ ra ngoài những hạt đỗ nhăn nheo vỏ hay bị đen đầu, loại này chỉ để nấu xôi, nấu chè chứ không làm giá được. Sau đó cứ một nồi, đây là loại nồi đất nung, nồi sành, có dung tích chừng 15 lít – 20 lít, cho vào khoảng 1 kg đỗ đã nhặt sạch, rồi dùng lá tre, đã rửa thật sạch, phủ kín lên trên và dùng que bằng tre, nứa gài chặt lá vào thành nồi.

Giá ngon là loại giá thân mập, dài chừng hai đốt hay hai đốt rưỡi ngón tay, rễ trắng và ngắn, đầu (ngọn) giá vẫn trắng tinh chứ không được trở thành lá xanh. Để có được điều này cần phải hội tụ đủ 4 điều kiện, đỗ sạch, lá tre sạch, nước dùng để tưới (dân làm giá gọi là nước dùng để đổ giá) phải trong mát, tốt nhất là nước giếng khơi, lấy từ những mạch ngầm sâu dưới lòng đất trên 15 mét và đổ nước đều đặn, đủ và đúng thời gian, mỗi ngày tốt nhất là 4 lần, cách nhau 6 tiếng.

Chỉ cần một sơ sểnh nhỏ, như dùng nước đục hay nước quá ấm để đổ giá, là cả nồi có thể đi tong – giá bị thối ngay. Ngon nhất là giá 5 ngày tuổi nhưng dân làm giá bán thường để 6 ngày mới dỡ bán. Nếu để 5 ngày, mỗi cân đỗ chỉ cho 4 tới 5 cân giá, để 6 ngày bạn sẽ có tới 6 cân, tính toán kinh tế đã chiến thắng ở đây. Chỉ khi dùng cho gia đình thì bạn mới có loại giá 5 ngày tuổi để ăn.

Sở dĩ tôi biết rõ như vậy vì chính tôi đã 3-4 năm liền làm cái công việc này giúp mẹ khi tôi đang đi học từ lớp 3 tới lớp 5. Giai đoạn này, mẹ tôi làm giá, một là cung cấp cho các đơn vị bộ đội ở Bắc Ninh, dạng như cung cấp hàng hóa theo hợp đồng bây giờ và một phần là đem ra chợ Bắc ninh bán. Qua việc làm giá, lòng bàn chân tôi tới nay không hề biết buồn là gì, cho cù thoải mái mà không thể làm tôi buồn bật cười được.

Năm 1971 là một năm có dấu ấn lớn trong nhà tôi. Hè năm 1971, trận lụt lớn, có thể nói ít có trong lịch sử, đã xảy ra. Trước tiên là đê sông Cầu bị vỡ, nước tràn về Bắc Ninh nhưng chỉ ở một phía, bên phía tây, vì đường tàu hỏa rất cao, từ Hà Nội đi Lạng Sơn và qua Trung Quốc, chạy xuyên qua giữa thị xã, chắn nước lại. Được khoảng 1 tuần, nước bên tây chưa kịp rủ đi thì nước bên đông lại tràn tới.

Tôi nghe người lớn bàn tán với nhau, rằng nước sông Hồng quá to, chính phủ sợ đê vỡ nước sẽ tràn ngập thủ đô Hà Nội nên „ngầm ra lệnh“ phá đê sông Đuống, cho nước đổ về phía tỉnh Hà Bắc. Dòng nước cuộn đỏ phù sa lại ập tới Bắc Ninh, cũng cao luôn ngấp nghé mặt đường tàu, như vậy là hè năm 1971, Bắc Ninh được hưởng cùng một lúc hai loại nước lụt – nước xanh của sông Cầu và nước đỏ của sông Đuống (nhánh của sông Hồng).

Dân thị xã Bắc Ninh hết chỗ chạy lụt, cũng không thể ở tạm mãi trên mặt đường tàu hỏa được, đành phải „tản cư trốn lụt“ và nhà tôi cũng phải chạy lên làng Cổ Mễ, làng ở gần đền thờ Bà chúa kho, ở nhờ. Sau khỏang 1 tháng nước mới rút đi hết. Khi quay trở lại Bắc Ninh, bố mẹ tôi đã quyết định mua nhà ở ngoài phố Tiền  An. Năm đó, Bố Mẹ đã phải trả cho chủ nhà 3000 đồng, cộng thêm vào đó là mấy chục lót tay để người khác đang sống „nhờ“ ỏ ngôi nhà đó chuyển đi chỗ khác ở. 3000 đồng thời đó to lắm.

Bố tôi đi làm ở công ty thực phẩm, lương tháng được có quanh quẩn 40 đồng, cộng thêm vài đồng phụ cấp công tác. Tôi nghĩ là đa phần số tiền kia là của Mẹ tôi dành dụm được từ thời Pháp vì ông anh họ, hơn tôi 5 tuổi, mãi những năm 80 sau này, một lần có nói với tôi „Mẹ mày ngày xưa giàu lắm. Vàng Kim Thành cả xấp“. Tôi muốn nói thêm, rằng ngày xưa, vàng lá Kim Thành được dập một lá là 4 chỉ.

Một điều trùng hợp là ông anh cả tôi cũng được đặt tên là Kim Thành, không hiểu bố mẹ tôi có hàm ý gì khi đặt tên con....

(còn nữa)

Kỹ sư Nguyễn Kim Phụng - gửi đăng
© Vietinfo.eu
Lựa chọn vietinfo di động

VietInfo Group

Liên hệ gửi bài: BBT@vietinfo.eu
Liên hệ quảng cáo: quangcao@vietinfo.eu ,
Tel.:+420 777 007 989 (chỉ liên hệ quảng cáo)

Vietinfo.eu được phát hành theo giấy phép và luật thông tin của EU.

Copyright © 2008 - 2020 VietInfo Group

Chọn hiển thị:

Chọn khổ chữ: