vietinfo di động
Thư mục
Góc Bạn Đọc

Nguyễn Kim Phụng - Những mảnh của cuộc đời (1)

Cập nhật lúc 29-04-2015 15:37:55 (GMT+1)
Ảnh minh hoạ. Nguồn ảnh: Internet

Cuốn tự truyện này tôi đã có ý định viết từ lâu xong cứ như mọi sự đều có duyên. Sau khi viết và được trang mạng vietinfo.eu đăng tải bài báo với tiêu đề  „30-4, Việt Nam sau 40 năm sau ngày thống nhất“, một bài báo có nhiều phản hồi, khen cũng nhiều mà chê trách, dọa nạt cũng có, tôi quyết định bắt đầu viết tự truyện này. Tôi hy vọng nó sẽ ít nhiều bổ ích cho nhân sinh quan – thế giới quan của bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc.

„Chỉ có Chúa mới cứu được linh hồn loài người và chỉ có sự thật mới giải phóng được tâm hồn con người...“

Dành cho những người tôi yêu mến!

Mấy lời mở đầu

Ngẫm suy muôn sự tại Trời
Trời mà đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần, phải phong trần,
cho thanh cao mới được phần thanh cao
Có đâu thiên vị người nào,
chữ Tài, chữ Mệnh dồi dào cả hai...

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

I.

   Tôi được sinh ra vào tháng 5 năm 1961, năm tương đối hòa bình ở Việt nam, mặc dù đất nước vẫn đang chia cắt hai miền Nam – Bắc và những năm 1959, 1960, 1961 kinh tế ngay ở miền Bắc cũng tàm tạm, nông nghiệp mấy năm được mùa nên đời sống của nông dân cũng như của cán bộ, công nhân viên nhà nước khá ổn định. Mẹ tôi kể lại, rằng những năm 60, 61, gạo mậu dịch, loại gạo mà cán bộ, công nhân viên nhà nước được mua định lượng theo Sổ gạo, đây thường là gạo cũ, hay bị ẩm, mốc, nhiều sạn, nhà tôi tòan bán cho người ta làm bún, làm bánh cuốn rồi lấy tiền mua gạo chợ, loại gạo mới do nông dân say xát thóc mới rồi đem bán hay đổi lấy gạo Mậu dịch, về ăn.

Cũng từ hòan cảnh thực tế của những năm này mà để mừng xuân 1961 được nhà thơ Tố Hữu hứng khởi viết:

Tôi viết bài thơ xuân,
ngàn chín trăm sáu mốt,
cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt,
nắng soi sưong giọt long lanh...
Chào 61 đỉnh cao muôn trượng
Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng.
Trông lại trời Nam, trông tới mai sau
Trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu...!“

Tôi là con trai thứ ba trong nhà, trên là hai ông anh nữa và dưới còn những 5 đứa em! Bố mẹ tôi đã „thuê“ ô-xin, thực ra chỉ là thuê bà vú nuôi để chăm sóc ba anh em chúng tôi. Cuộc đời cũng lắm chuyện éo le. Bố tôi (áng chừng là sinh năm 1928-1930 theo lời ông kể chứ đâu có giấy khai sinh như sau này) vốn thuộc thành phần bần cố nông chính hiệu, cái thành phần nòng cốt của Đảng đấy!!! quê ở Kim Thành, Hải Dương. Khi còn nhỏ, bố tôi đâu có được đi học mà phải đi ở cho một nhà địa chủ trong vùng.

Chỉ có hai chú tôi, đây là hai em trai cùng cha khác mẹ với bố tôi, còn được đi học. Sau cách mạng tháng 8.1945, bố tôi theo Việt Minh và từ đó đi bộ đội luôn. Tới năm 18 tuổi thì đã được kết nạp đảng. Ông đã trực tiếp tham gia trận Điện Biên Phủ, có bị thương nhẹ và cũng đã được nhận Huy chương chiến công hạng nhất và Huân chương chiến công hạng ba. Sau hiệp định đình chiến Giơ – Ne – Vơ, ông cùng đơn vị bộ đội về đóng tại thành Bắc Ninh. Thành cổ Bắc Ninh là công trình kiến trúc nghệ thuật quân sự tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh, được xây dựng từ năm 1805 thời Vua Gia Long, triều Nguyễn, trên địa phận các làng Ðỗ Xá, huyện Võ Giàng, Hòa Ðình (Tiên Du) và làng Yên Xá, huyện Yên Phong (nay thuộc phường Vệ An, thành phố Bắc Ninh), tất cả những làng, xã nói trên nay đều thuộc thành phố Bắc Ninh. Gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa của cư dân nơi đây, Thành Bắc Ninh từng đi vào câu ca Quan họ với niềm tự hào "Trong sáu tỉnh người đã chưa tỏ, ngoại năm thành chỉ có Bắc Ninh".

Tới năm 1957 thì ông chuyển ngành ra làm ở cơ quan thực phẩm huyện Quế Võ, giáp gianh với thị xã Bắc Ninh. Trong thời gian đóng quân tại thành Bắc Ninh, Bố đã quen với Mẹ và đã lấy nhau vào năm 1956. Ngược lại với Bố, Mẹ tôi là con nhà dòng dõi họ Bạch, dòng họ này bất cứ ai là dân Bắc Ninh gốc đều phải biết. Đơn giản vì một điều là bố của mẹ tôi, tức ông ngoại tôi, cho tới năm 1945 làm Lý trưởng, dân Bắc Ninh gốc khi gặp cụ đều chào „ông Lý“, còn anh ruột của ông ngoại tôi làm chánh tổng, dân gặp đều chào là „cụ chánh“.

Nhờ gia thế nên các bác, các cô cậu trong nhà ngoại và mẹ tôi đều được đi học từ nhỏ và đã là dân Bắc Ninh thì ngoài biết hát quan họ ra còn buôn bán, kinh doanh rất giỏi. Như vậy, mối nhân duyên của bố – mẹ tôi nghe chừng rất „chênh lệch“, Bố thì „chém to kho mặn, ăn nói ngắn gọn nếu như không muốn nói là hơi thô lỗ, cục cằn, nhát gừng, Mẹ thì thanh lịch, ăn nói nhỏ nhẹ, dễ nghe. Chẳng ngạc nhiên gì khi trong lịch sử Việt Nam, các bậc vua – chúa đều tìm về đất Kinh Bắc (mà Bắc Ninh chính là trung tâm của vùng Kinh Bắc này) kén vợ, dù họ đã có vài ba bà vợ trước đây rồi nhưng là người nói tiếng Thanh Hóa, tiếng Nghệ Tĩnh, Quảng Bình hay tiếng vùng Bình Định - Phú Yên (trường hợp ba anh em họ Nguyễn – Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ).

Thị xã Bắc Ninh là một trấn nhỏ rất thanh bình, nằm cách Hà Nội 30 km về phía bắc. Cho tới tận những năm cuối thập kỷ 80, thị xã Bắc Ninh chỉ vẻn vẹn có 3 phố chính, Tiền An, Vệ An và Ninh Xá, nối vào đó là những phố nhỏ khác như phố Đường 18, phố Nhà Chung (sở dĩ có tên phố Nhà Chung vì đây vốn là đất của Giáo hội địa phận Bắc Ninh, nằm bên hông Nhà thờ lớn Bắc Ninh), phố Dốc Đặng, (phố) đường 38.  Theo lời mẹ tôi kể thì tới tận năm 1954, trước khi có hiệp định đình chiến Giơ – Ne – Vơ, phố Đường 18 là nơi buôn bán sầm uất, chợ Bắc ninh cũng nằm kẹp giữa phố này với phố Nhà Chung, trên phố đường 18 có rất nhiều hiệu vàng nổi tiếng như hiệu vàng Kim Thành, hiệu vàng Đại Tín (khác với nhãn vàng Bảo Tín ở Hà Nội sau này) và mẹ tôi cũng một thời làm nghề buôn bán vàng.

Tuy nhiên họ ngoại nhà tôi, mặc dù thuộc thành phần „tư sản – địa chủ“ nhưng lại là địa chủ tư sản yêu nước và đã tham gia Việt Minh, giúp đỡ Việt minh. Mấy ông bác tôi đều theo cách mạng từ nhỏ và một ông đã làm tới chức thứ trưởng trong chính phủ Phạm Văn Đồng từ những năm 60-70 của thế kỷ trước. Mẹ tôi và các bà bác là dân quan họ gốc, hát rất hay, đã từng kể, rằng có một lần lính Pháp truy đuổi cán bộ Việt Minh qua phố Vệ An và nghe chừng nguy kịch, các bà (tất nhiên hồi đó còn vừa trẻ, vừa xinh) liền xông ra hát quan họ „như thật“ và hay tới mức là quan quân Pháp, tất nhiên trong số đó có rất nhiều lính Ta xỏ nhầm giầy Tây, phải dừng lại để xem và nghe. Nhờ thế cán bộ Việt Minh mới chạy thóat vào các làng giáp phía sông Cầu, chay qua làng Vân, làng nấu rượu nổi tiếng, làng Thổ Hà, làng làm đồ gốm,  rồi thóat về chiến khu.

Sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc, được cắp sách tới trường, tôi đã được nhồi nhét những tư tưởng cộng sản giáo điều từ nhỏ. Lại được Trời phú cho trí thông minh nên đọc gì cũng nhớ, học gì cũng thông. Lịch sử Việt Nam, Trung Quốc hay các nước khác tôi thuộc làu làu. Tôi còn nhớ, rằng ông bác đằng họ ngoại tôi có mấy bộ sách – truyện Tàu rất quí, như Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử, Đông chu liệt quốc hay Tây du ký, ông cho vào bao tải và cất lên xà nhà, vào những năm 60, sách truyện ít lắm, đâu như bây giờ bày bán tràn lan, tôi nằn nì hỏi mượn. Lúc đó tôi mới có 6-7 tuổi đầu nhưng thấy tôi thông minh, ngoan ngõan nên ông bác vẫn cho muợn, tất nhiên là từng quyển một, xem hết, trả lại và nếu giữ sách hẳn hoi thì mới cho mượn tiếp.

Nói ra sợ bị chê cười là khoe khoang, tự mãn, là kiêu ngạo nhưng tôi đã được bạn bè hay thầy cô dạy cấp 1 cho là thần đồng từ nhỏ. Mới học lớp 2, lớp 3 mà tôi đã giải tóan lớp 4, lớp 5 nhanh như chảo chớp, còn luôn thuộc thành phần „vở sạch, chữ đẹp“ và ngay môn văn thì cũng luôn thuộc hàng đỉnh. Có thể nói, cho tới khi học hết lớp 10, tôi luôn luôn là học sinh giỏi, gương mẫu và nếu không làm lớp trưởng thì cũng lớp phó phụ trách học tập của lớp. Những năm học cấp 1, cấp 2 thì còn làm đội trưởng hay đội phó đội Thiếu niên tiền phong, ba năm cấp 3 tôi luôn làm bí thư chi đòan thanh niên CS HCM của lớp và là thành viên trong ban bí thư đòan trường cấp 3 (Quế Võ). Tôi chẳng cần phải học thêm học nếm gì, ngoài 1 tháng học thêm sau khi thi tốt nghiệp cấp 3 và chuẩn bị thi vào đại học và tôi đi học thêm chỉ vì Mẹ tôi cứ nằn nì, bắt tôi phải đi, nhưng thi cử đều trót lọt.

Thi tốt nghiệp 10 (4 môn) được 37 điểm, một trong hai học sinh có điểm thi tốt nghiệp cao nhất tỉnh Hà Bắc (ngày xưa Bắc Ninh và Bắc Giang gộp lại thành tỉnh Hà Bắc) năm 1978, thì đại học  (Tóan – Lý - Hóa) được 26,5 điểm, cũng thứ 2 tỉnh này luôn (người trên tôi được 27 điểm). Tôi nói những điều này không phải để khoe mà là để nói nên sự thật, rằng đúng thời đó tôi quả là „một con cừu ngoan trong bầy cừu đang được nuôi ở Trại gia súc“.

(Còn nữa)

Kỹ sư Nguyễn Kim Phụng - gửi đăng
© Vietinfo.eu
Lựa chọn vietinfo di động

VietInfo Group

Liên hệ gửi bài: BBT@vietinfo.eu
Liên hệ quảng cáo: quangcao@vietinfo.eu ,
Tel.:+420 777 007 989 (chỉ liên hệ quảng cáo)

Vietinfo.eu được phát hành theo giấy phép và luật thông tin của EU.

Copyright © 2008 - 2020 VietInfo Group

Chọn hiển thị:

Chọn khổ chữ: