vietinfo di động
Thư mục
Góc Bạn Đọc

Nguyễn Kim Phụng - Những mảnh của cuộc đời (3)

Cập nhật lúc 11-05-2015 20:42:35 (GMT+1)
NHà thờ Bắc Ninh. Ảnh minh hoạ: Nguồn ảnh: Internet

Cuốn tự truyện này tôi đã có ý định viết từ lâu xong cứ như mọi sự đều có duyên. Sau khi viết và được trang mạng vietinfo.eu đăng tải bài báo với tiêu đề  „30-4, Việt Nam sau 40 năm sau ngày thống nhất“, một bài báo có nhiều phản hồi, khen cũng nhiều mà chê trách, dọa nạt cũng có, tôi quyết định bắt đầu viết tự truyện này. Tôi hy vọng nó sẽ ít nhiều bổ ích cho nhân sinh quan – thế giới quan của bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc.

>Nguyễn Kim Phụng - Những mảnh của cuộc đời (2)

Ngôi nhà bố mẹ mới mua nằm ở đoạn giữa phố Tiền An. Để bạn đọc dễ hình dung, nếu đi từ Hà Nội về, cứ theo đường số 1, đường cũ ngày xưa chứ không phải quốc lộ 1 mới ngày hôm nay, sau khi đã qua làng Hòa Đình hơn 500 mét là bạn đã vào địa phận thị xã Bắc Ninh và cũng là điểm đầu của phố Ninh Xá (cũ), sau khoảng 1 km nữa là gặp ngách rẽ lên nhà ga tàu hỏa Bắc Ninh, đi tiếp độ 500 mét tới ngã tư, được gọi là Cổng ô.

Ở ngã tư này, nếu rẽ phải theo đường số 38 (cũ) sẽ đi tới đồi Ba Huyện, một địa điểm mà nhiều người Việt, dù quê quán ở tận đẩu, tận đâu, nhưng nếu như ngày xưa từng sang Tiệp Khắc, Balan, Đông Đức, Nga... học nghề hay đi thực tập, cũng sẽ biết và nhớ tới nó vì họ đã từng được (phải) tập trung tại đây mấy tháng để học „chính trị“ hay để được huấn thị những điều cần thiết trước khi đi nước ngoài.

Tiếp tục đi thẳng thì chỉ độ 300 mét nữa là tới Cửa hàng ăn uống thị xã Bắc Ninh, cũng nằm bên phải đường. Ở ngã tư Cổng ô, bạn không được phép rẽ trái vì đoạn này là đường một chiều. Đi thẳng tiếp độ hơn 500 mét là bạn tới trung tâm thị xã, được gọi là Cột cờ.

Có lẽ trước năm 1954, đây là quảng trường thành phố Bắc Ninh. Trước năm 1954, Bắc Ninh vốn là thành phố, dân ở đây có điện, có nước máy dùng đàng hoàng. Khi cuộc Tòan quốc kháng chiến nổ ra, Việt minh đặt bom mìn cho phá hủy cả nhà máy điện lẫn nhà máy nước nên sau năm 1954, dân mất nhờ luôn.

Mãi tới năm 1971 – 1972 điện mới được cấp lại và hạn chế cho các phố chính, còn nước máy thì mãi tới những năm cuối thập kỷ 90 mới có!)  theo mô - đen châu Âu vì ở bên phải, đối diện với cột cờ, là Nhà thờ lớn Bắc Ninh, đây là một trong những nhà thờ thiên Chúa to và đẹp loại nhất nhì miền Bắc và Tòa Thánh Bắc Ninh cũng quản một địa hạt (giáo xứ) rất rộng lớn.

Tôi vẫn nhớ, cứ mỗi lần lễ Giáng sinh vào dịp 24.12 hay lễ Phục sinh, dịp cuối tháng ba đầu tháng tư, giáo dân ở rất nhiều nơi đổ về đông nghịt thị xã nhỏ này. Trước cửa chính vào nhà thờ là một cái sân rất rộng, tụi trẻ con hay ra đây đá bóng „trộm“ vì thực ra đây không phải chỗ để đá bóng.

Tôi nghĩ, Tòa thánh Bắc Ninh trước năm 1954 rất giàu và mạnh. Toàn bộ cơ ngơi của trường cấp 2 Ninh Xá, một tòa nhà 3 tầng xây theo kiến trúc châu Âu và một cái vườn, được gọi là „vườn sinh vật“ cho học sinh học thực tế môn sinh vật, nằm sát với bức tường cao khoảng 2,5 mét ngăn trường với khu vực thuộc nhà thờ, có lẽ cũng do chính quyền „ép“ nhà Chung phải hiến tặng nhà nước làm trường học.

Trong khu vực thuộc nhà thờ, ngoài tòa nhà thờ chính ra còn cả khu nhà phụ phía sau, dùng để làm nơi nghỉ ngơi của các Cha hay làm các lớp học kinh thánh hay học hát thánh ca. Vào những ngày thứ bảy hay sáng chủ nhật, ở trường học chúng tôi vẫn nghe được tiếng hát Thánh ca vọng sang.

Từ vị trí trung tâm này, nếu tiếp tục đi thẳng lên phía bắc theo đường 1 thì bắt đầu vào phố Tiền An, nếu rẽ trái, lên dốc Cầu gỗ và vượt qua đường tàu hỏa thì sang phố Vệ An. Từ điểm Cột cờ này theo đường 1 đi thẳng chỉ độ 800 mét nữa là tới nhà bố mẹ tôi mới mua, tất nhiên là đã đi qua cả ngã ba, nơi đường 1 cắt với xuất phát điểm của đường 18, dẫn đi Phả Lại, Đông Triều, Quảng Ninh.

Một đặc điểm của các phố xá ở Bắc Ninh là hai bên vỉa hè thường được trồng cây bàng, lác đác kèm thêm cây Phượng vĩ. Chỉ khi đã ra khỏi địa phận phố cổ, tức là những phố có trước 1954, thì hai bên đường mới được trồng cây Xà cừ, chúng tôi, lũ trẻ con, cứ gọi nôm na nó là cây Báng súng, hay một vài loại cây khác nữa. 

Không biết khi thiết kế đường phố, các kỹ sư người Pháp có nghiên cứu gì không trong việc cho trồng các loại cây này, nhưng tôi thấy nó hợp lý. Cây Bàng „mùa đông lá đỏ, mùa hạ lá xanh“ và cây Phượng vĩ, thân không cao lắm, Bàng thì có tán và lá thì như cái quạt nhỏ, Phượng thì lá tia ra như lông gia cầm và chúng cùng rụng lá về mùa đông.

Bạn thấy không, mùa hè oi bức, nóng nực thì ta có tán lá cây che mát, đến mùa đông ta cần ấm, cần ánh sáng mặt trời thì lá cây lại rụng gần hết, không chắn lại ánh sáng chiếu xuống đường, xuống nhà nữa, quả là hợp lý. Gốc và rễ của cây Bàng hay Phượng vĩ lại không quá to, không đội gồ lên như rễ cây Xà cừ nên nó cũng ít khi làm vỉa hè bị đội lên hay làm ảnh hưởng đến móng của các ngôi nhà xây gần chúng.

Chúng tôi cũng hay trèo cây để vặt quả bàng, khi chín màu vàng hoặc màu đỏ tía, hay quả Phượng vĩ để ăn. Nhiều nhà nghèo, không có tiền mua than củi, đến mùa lá bàng rụng lại đi quét lá đem về để đun nấu. Ngày nay, không biết mấy ông kỹ sư, kiến trúc sư Hà Nội có nghiên cứu gì không trong việc cho chặt cây cổ thụ ở Hà Nội và thay vào đó là cho trồng cây mỡ, hay cũng giống như Đảng ta, cứ làm đi rồi „sai thì sửa“!

   Lớp 5 tôi lại theo Bố xuống ở tại Phố Mới, huyện Quế Võ, nơi bố làm việc, cách thị xã Bắc Ninh 10 km và học ở trường cấp 2 Phượng Mao. Do là một đứa „lạ hoắc“, lại là dân „tỉnh“ về nên các bạn trong lớp không quen, không biết. Vì thế chức lớp trưởng được học sinh và giáo viên chủ nhiệm giao cho một bạn tên là Phượng (con trai chứ không phải con gái), nhưng sau 1 tháng thì lớp phó phụ trách học tập trao cho tôi. Tôi nhắc đến năm học lớp 5 này vì nó liên quan tới 3 năm học cấp 3 sau này tại trường cấp 3 Quế Võ.

Lên lớp 6, bố mẹ lại cho tôi về Bắc Ninh, ở cùng với Mẹ và hai năm lớp 6, lớp 7 tôi đi học ở trường cấp 2 Ninh Xá, chính là cái trường liền sát với Nhà thờ Bắc ninh như đã nói. Mẹ, sau một trận ốm kéo dài, đã thôi không làm giá bán nữa mà chuyển sang bán giày dép ở Chợ lớn Bắc Ninh.

Buổi sáng, cứ khỏang 6 giờ rưỡi sáng, tôi lại dậy và gánh hàng ra chợ, đưa đến „quầy“ rồi nếu sớm thì bày hàng luôn, sau đó mẹ sẽ ra bán, rồi vội vàng cắp luôn cặp sách tới trường. Nhiều lúc, mẹ vì bận cho các em nhỏ hơn ăn uống ở nhà, lúc này nhà tôi không còn nuôi bà „Ô Xin“ nữa, nên ra muộn, tôi phải nhờ các bà, các cô bán hàng bên cạnh quầy mẹ trông hộ. Cũng may, Chợ lớn Bắc ninh cách trường Ninh Xá chỉ có mấy trăm mét, tôi lại đi tắt qua khuông viên sân Nhà thờ nên cũng ít khi bị đi học muộn.

Những năm này tôi như có sẵn „lịch làm việc“. Sáng dậy gánh hàng ra chợ và bày hàng – đi học. Hết giờ học về nhà ăn cơm rồi xách túi du lịch, ra chỗ Mẹ lấy tiền, ra bến xe khách (xe bus bây giờ) Bắc Ninh, bến xe cũng nằm ngay gần nhà thờ, sát dốc Cầu gỗ, mua vé đi Hà Nội, sang chợ Đồng Xuân – Bắc Qua mua hàng giày dép về cho Mẹ bán.

Ở Hà nội về, nếu sớm, tức là tầm 5 giờ, 6 giờ chiều thì lại ra chợ trông và bán hàng cho Mẹ để Mẹ về nấu cơm, nếu muộn 7 giờ, 8 giờ tối rồi thì ra thẳng chợ, gánh hàng cho Mẹ về nhà. Thời ấy, xe khách ít và chạy thưa lắm. Tuyến Hà Nội – Bắc Ninh, giờ cao điểm thì cứ 30 phút có 1 chuyến, thường là buổi sáng từ 8 giờ tới 11 giờ và buổi chiều từ 3 giờ tới 5 giờ, trong những thời gian còn lại phải 1 giờ mới có1 chuyến xe chạy.

Khách đi tuyến này lại rất đông, đặc biệt là những người buôn chuyến, buôn rau quả hay buôn hàng khô, rượu, thịt, gà vịt...mang từ Bắc Ninh sang Hà Nội bán. Nhiều khi quầy bán vé mở cửa, bán vé cho từng chuyến xe một, mới bán được độ 5-6 vé lẻ là người bán vé đã đóng sập ô cửa sổ lại và nói là hết vé mặc dù mỗi xe khách đều bị nhồi nhét tới 50 – 70 người. Hóa ra cái quan hệ „đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn“ đã được áp dụng triệt để trong việc „mua vé xe khách này“.

Dù là bạn mua được vé đầu tiên ở phòng bán vé, khi ra đến xe đã thấy cả chục người ngồi trên đó và thường chỉ còn chỗ để đứng chứ ghế ngồi đã hết từ lâu rồi! Như vậy, những người tử tế, đàng hòang, bị „nhồi sọ “ nên cứ tưởng câu chuyện thêu dệt „Lê Nin xếp hàng trong hiệu cắt tóc“ là có thật, luôn bị thiệt. Ngay cả khi chen chúc xếp hàng đàng hoàng nhưng khi đến lượt vẫn không mua được vé nên lỡ chuyến xe, có nhiều người đã phải ngủ lại vật vờ qua đêm trên bến xe Bắc Ninh vì không mua nổi vé xe đi Hà Nội.

Là đứa „sáng dạ“ nên tôi đã nhìn thấy ngay mấu chốt vấn đề nằm ở đâu. Vé xe chính thức Hà Nội  - Bắc ninh khi đó là khỏang 5 hào/người thì phải, nếu hôm nào tôi có thời gian xông xênh thì vẫn đi xếp hàng mua vé bình thường, những hôm về học muộn do có nhiều tiết học, nhất là khi tôi đã lên lớp 7, tôi cứ thủng thẳng ra luôn chiếc xe chuẩn bị tới lượt chạy, dù là phụ xe đang bán vé trong phòng bán vé, còn lái xe và một đứa „ăn theo nhà xe“, thường thuộc thành phần vô công rỗi nghề và đầu gấu ở bến xe, đang trấn hai cửa lên xe, và rút ra 1 đồng dúi vào tay người sóat vé – thế là xong.

Tôi ung ung lên xe và đương nhiên là có chỗ ngồi đàng hoàng, mặc xác những người đang đánh cãi, chửi nhau vì tranh chỗ xếp hàng ở trong kia! Đây mới là những năm 70 của thế kỷ trước, khi mà tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam vẫn „ngây thơ, trong trắng“ và tin tưởng tuyệt đối vào chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, kể cả tôi,  nhưng học thuyết „đi đâu cứ có BÁC HỒ dẫn đường“ luôn được áp dụng sáng tạo và luôn luôn đạt được hiệu quả cao!

Trong công việc làm „Brigáda“ giúp mẹ này cũng có nhiều kỷ niệm khó quên. Thứ nhất, miền Bắc Việt Nam, đi theo đường lối xã hội chủ nghĩa nên việc „ngăn sông, cấm chợ“ là chủ trương xuyên xuốt trong các nghi quyết của Đảng. Nhà nước cho thành lập đội quản lý thị trường và nhân viên của đội này rất tích cực trong việc „lục sóat, kiểm tra hàng hóa“ của hành khách đi xe, lập các bốt, trạm chặn đường kiểm tra xe và người đi lại ở các điểm nút giao thông và cũng tích cực làm „bảo kê và ăn hối lộ“ cho cánh buôn chuyến.

Những điều này tôi được chứng kiến tận mắt, chính tai nghe thấy hàng ngày. Bắc Ninh và vùng phụ cận là nơi trù phú, đất đai màu mỡ nên trồng hoa màu, rau tươi như xu hào, cải bắp, súp lơ, xà lách rất thuận lợi, cũng nhờ đó ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng phát triển, tất nhiên chỉ là trong các hộ gia đình mà thôi. Chính vì thế đây là một đầu mối cung cấp hoa quả và thịt cá, ngoài ra cả rượu „lậu“, rượu làng Vân nổi tiếng cả nước, cho Hà Nội thủ đô.

Các chuyến xe ca, chạy từ Bắc Ninh, qua những làng như Hòa Đình, làng Ó, làng Nhồi, thị trấn Lim..., tới Từ Sơn, Đình Bảng, qua Yên Viên, Gia Lâm rồi về Bến Nứa (Bến xe Long Biên – gọi một cách chính thức). Từ đây, mọi thứ lại được chuyển về chợ Đồng Xuân – Bắc Qua.

Các chuyến xe khách Bắc Ninh – Hà Nội vì thế lúc nào cũng chất đầy rau, củ, quả hay gà vịt ngan ngỗng, đôi lúc còn thêm mấy chú lợn kêu eng éc, kể cả để bên  trong xe hay chất ngất ngưởng trên nóc xe. Khổ nhất và mạo hiểm nhất là cánh buôn rượu lậu. Rượu được chứa trong các túi Nilon dán, trong săm ô tô cũ và cho vào bao tải để che hay thậm chí là cho vào túi cao su, đây vốn là các túi để đựng nước nóng chườm bụng khi đau bụng, sản xuất tại Liên Xô hay Trung Quốc, rồi quấn vào người, dùng áo mặc ngoài che dấu đi.

Dù đã phải „nộp tiền bảo kê“ đều đặn cho đội quản lý thị trường nhưng hàng hóa của họ vẫn bị mất như chơi, chẳng hạn khi có những đợt kiểm tra đột xuất hay có những tóan di động mà họ chưa quen, chặn xe lại kiểm tra. Những lúc như vậy, chẳng ai dám nhận hàng cả vì „tiền đằng nào cũng mất rồi, vớ vẩn còn mang vạ vào thân“ và thế là tòan bộ hàng hóa rơi vào tay đội kiểm tra. Tất nhiên những hàng hóa này lại chạy cửa sau tới những người tiêu thụ còn tiền thì „đố ai biết về đâu?“.

(còn nữa)

Kỹ sư Nguyễn Kim Phụng - gửi đăng
© Vietinfo.eu

>> Bình Luận tại bài 1: Những mảnh của cuộc đời (1)

Lựa chọn vietinfo di động

VietInfo Group

Liên hệ gửi bài: BBT@vietinfo.eu
Liên hệ quảng cáo: quangcao@vietinfo.eu ,
Tel.:+420 777 007 989 (chỉ liên hệ quảng cáo)

Vietinfo.eu được phát hành theo giấy phép và luật thông tin của EU.

Copyright © 2008 - 2020 VietInfo Group

Chọn hiển thị:

Chọn khổ chữ: